![]()
TUC ĐỐT PHÁO TẠI VIỆT – NAM
Đã bao đời tại Việt Nam, người ta đốt pháo trong hội hè,cúng tế.Đám cưới nhất định là phải đốt pháo.Ăn tân gia, mừng thăng quan tiến chức,mừng thọ, mừng sinh con trai…là có đốt pháo.Nhất là trong tết nguyên đán, pháo là một món không thể thiếu ,là một trong những món chính trong mọi nhà : thịt mỡ,dưa hành,câu đối đỏ, bánh chưng xanh,mứt,rượu,pháo…
Bài thơ Vịnh Tết của Nguyễn Công Trứ đã tả đầy đủ cảnh tết dù là tết của người nghèo:
Bánh chưng chất chặt chừng hai chiếc,
Rượu thuốc ngâm đầy độ nửa siêu.
Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo,
Nguyên tiêu cao ngất một cành tiêu!
Câu đối năm xưa của Tú Xương cũng là một bức hí họa khá độc đáo:
Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo,
Nhân tình bạc thế lại bôi vôi!
Pháo là một từ ngữ Hán Việt .Pháo khởi đâù là đụng cụ, là cái máy ném đá.(Chữ Pháo ở đây có bộ thạch) Có lẽ giống máy ném đá của quân đội La mã thời xưa, dùng sức bật để bắn đá vào thành.Phải thật lâu,khi con người tìm ra thuốc súng, người ta mới chế ra khẩu súng thần sang( thần công ,đại bác) bắn đạn là viên đá lớn rồi sau là viên đạn sắt(Lúc này,chữ Pháo có bộ hỏa vì khi đốt phải châm ngòi băng lửa).
Người ta cũng đem thuốc súng vào đời sống bằng cách cách gói chặt lại trong giấy,đem đốt lên sẽ gây tiếng nổ,và người ta cũng gọi nó là Pháo.
Chúng ta không biết chính xác lúc nào người Việt Nam chế ra pháo nhưng đời Nguyễn Hữu Chỉnh( Kêu lắm lại càng tan xác lắm ) ,và Hồ Xuân Hương( Pháo nổ đùng ra chiếu),tức là đời Lê đã có pháo .
Làm pháo thì phải có thuốc pháo,sau này gọI là thuốc súng.Cơ bản,thuốc pháo có ba chất chính:
-Lưu hùynh (soufre)
-Diêm trắng ( salpêtre)
-Than.
Các tài liệu Âu Mỹ đều cho rằngTrung hoa là nước đầu tiên tìm ra thuốc súng.Đào Duy Anh nói rằng ngườI Mông cổ sang chiếm Âu châu cho nên ngườI Âu châu biết thuốc súng từ đó.(1)
Trần Trọng Kim cũng viết rằng khi quân Nguyên đánh ta đã dùng đại bác bắn thuyền quân ta.(2)
Nhưng một số tài liệu Trung quốc lại cho rằng người Việt Nam là người đầu tiên biết dùng súng. Quân đội Trung quôc trước đời Minh Thành tổ(1403-1427) chỉ có ngũ doanh là Trung doanh,Tiền doanh, Tả doanh, Hữu doanh và Hậu doanh. Niên hiệu Vĩnh lạc , Minh Thành tổ cho quân chiếm Việt Nam,băt được Hồ Quý Ly, học được cách thức chế súng thần sang của người Việt Nam lập ra Thần Cơ doanh,tức là đội pháo binh.
Sách Cô Thụ Biều Đàm của Trung quôc chép”Lê Trừng,con của Hồ Quý Ly được nhà Minh cho làm hộ bộ thượng thư để chế tạo súng lớn, súng nhỏ cho nhà Minh. Ngày nay hễ tế binh khí thì tế luôn Lê Trừng(3)
Minh sử chép rằng Lê Trừng làm binh bộ thượng thư.
Sách Thù Vực Chu Tư Lục của Trung quốc cũng chép rằng Lê Trừng,em của Hồ Hán Thương tiến dâng cách thức chế tạo thần sang, được vua Minh phong cho làm quan.(4)
Lê Quý Đôn kết luận:”Như vậy thứ binh khí này truyền vào Trung quôc thực từ Lê Trừng.(5)
Và chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi: Người Trung quôc tìm ra thuốc súng hay người Việt Nam?
Hay người Trung quốc chế ra thuốc súng nhưng người Việt Nam lại là người đầu tiên chế tạo súng?Nếu từ đời
Nguyên,người Trung quốc đã biết dùng súng thì sao họ trọng dụng Hồ Nguyên Trừng? Và bên Trung quốc, khởi đầu người ta đốt pháo là để trừ tà. Sách Kinh Sở Tuế Thời Ký chép rằng người nào bị sơn tiêu( ma núi) xâm nhập thì sinh ốm đau.Do đó người ta phải dùng pháo để đuổi ma. Nhưng theo thời gian, pháo trở thành thứ không thể thiếu trong ngày lễ,tết và hội hè, yến tiệc.
Người Việt Nam ta thì quan niệm rằng đốt pháo là để cho vui nhà vui cửa,và để hòa nhập vào niềm vui chung của mọi người. Trong ba ngày tết, nhà ngườI ta đốt pháo ầm ĩ,nhà mình im lặng thì thật là buồn tẻ,lạnh vắng! Người Việt Nam ta quan niệm rằng tiếng pháo gây những âm thanh ầm ĩ, nhộn phịp, như tiếng trống thúc dục hòa cùng mùi thuốc súng nồng nặc,màu khói xanh tỏa trong không gian, màu xác pháo hồng tung tóe dưới đất đã gây nên những xúc động mạnh cho khứu giác,thị giác thính giác…
Ngoài ra đốt pháo cũng là một cách dự đoán tương lai.Nhà ai đốt pháo không nổ phải châm lại hai ba lần, hay pháo nổ rời rạc thì năm đó làm ăn không thuận lợi.Đám cưới mà đốt pháo khong nổ cũng là một điềm xui .
Trong đám cưới, người ta đốt pháo khi họ nhà trai đến họ nhà gái, và khi họ nhà gái đưa dâu đến nhà trai.
Trong lễ mừng thọ, mừng thăng quan,mừng sinh con trai,mừng tân gia, người ta đốt pháo khi cử hành lễ gia tiên,và khi có những quan khách sang trọng đến.
Trong ngày tết,người ta đốt pháo lúc giao thừa và sau đó là suốt ba ngày tết.Khi đến nhà ai chúc tết,khi vào cổng,khách cũng có thể đốt một phong pháo để chúc mừng.
Ngày xưa,phong pháo ngắn lắm. Phong pháo dài hơn một gang tay,treo lên thì dài gâp đôi, đốt trong vài phút và cỡ pháo tiểu,nghĩa là viên pháo nhỏ hơn ngón tay út và dài hơn một lóng tay.Còn pháo nhỏ hơn ,bằng nửa pháo tiểu, cho trẻ con chơi thì gọi là pháo chuột. Loại pháo to hơn,dài hơn,gấp đôi pháo tiểu là pháo trung. Còn pháo đại là viên pháo to gần bằng viên pin đại, hay bằng lon sữa bò tùy theo nhà chế tạo và ngườI đặt.Ngày xưa đờI sống bình dị, chỉ vài phong pháo tiểu cũng đủ vui vẻ, dân chúng ít ai đốt pháo trung hay pháo đại như ngày nay.
Pháo thường làm thành tràng dài nên gọi là pháo tràng. Pháo từng viên là pháo rời,dành cho trẻ con chơi.Pháo đại có thể bán rời để đốt từng viên hay nối với pháo tiểu,pháo trung để tạo nên âm thanh tạch tạch,đùng đùng rất nhộn nhịp.
Ở một vài nơi,dân chúng còn có tục đốt pháo tập thể.NgườI ta tổ chức thi đốt pháo hoặc chơi đốt pháo tại đình làng. Pháo nhà nào nổ to,ít lép,xác pháo văng xa ..thì thắng cuộc. Có nơi thi ném pháo, tức là treo một viên pháo đại lên (viên này rất to), ngườI dự thi dùng pháo tiểu ném trúng pháo đại để cho pháo đại bắt lửa cháy và nổ.Cũng có làng trai gái ném pháo vào nhau đùa giỡn .
Sau 1945, tục lệ đốt pháo dường như mất hẳn ở tại nhiều nơi.Vì kinh tế khó khăn, vì lòng buồn, vì chiến tranh đã nghe quá nhiều tiếng nổ,vì chính sách cấm đoán của đảng và nhà nước…
Tại miền Nam, tuy rằng trong chiến tranh, chính phủ vẫn dễ dãi để cho dân tự do vui chơi ba ngày Tết.Trong ba ngày tết dân chúng đốt pháo ầm ĩ. Pháo vang lừng từ Phú thọ sang quận Năm,quận nhất. Pháo rền Thủ Đức, Biên Hòa, Mỹ Tho…Không những dân đốt pháo mà vài ông nhà binh còn bắn súng lên trời chào đón xuân về!
Trong Tết mậu thân (1968), cộng sản lợi dụng yếu tố này và tục lệ về quê ăn tết của binh sĩ ta để tấn công bất ngờ khắp lãnh thổ miền Nam. Nhưng trong tết mậu thân, cộng sản đã thất bại chua cay,cái thắng lợi không bù đáp cái thua thiệt khiến Hồ Chí Minh hộc máu mà chết!
Tại Việt Nam, nghề làm pháo phát triển mạnh. Gò Vấp đã trở thành một trung tâm sản xuất pháo.Nhưng pháo Việt Nam thua pháo Hồng Kông.Pháo Hồng Kông dài hơn,nổ to hơn,bảo đảm hơn chứ không tắc tị, lại có nhiều loại,có mùi thơm chứ không hăng hắc mùi lưu huỳnh, xác pháo nổ ra có nhiều màu sắc. Đốt pháo xong,trong pháo bay ra những biểu ngữ mang lờI chúc tụng…Thật hết xảy! Cho nên nhà giàu đua nhau mua pháo Hồng Kông.
Sau 1975, nghề làm pháo càng phát triển vì anh em miền Bắc của chúng ta có máu mê chơi pháo.Lại nữa, sau chiến tranh, cả một kho tàng vũ khí đạn dược còn đó, dại gì mà không xài! Người ta đem bom đạn trong kho ra bán rẻ, biến nó thành tiền,thành quần áo,nhà cửa chứ chỉ trông vào lương nhà nước thì sống sao nổi! Những kẻ khốn khổ thì đi tìm đạn,đi đào bom, gỡ mìn, lấy chất nổ, lấy thuốc súng dể bán cho người bắt cá và nhà làm pháo,khiến nhiều kẻ đã chết oan uổng vì đạn,vì bom,vì kế sinh nhai!
Trước 1975, các nhà giàu cũng ganh nhau tiếng pháo.Nhà bên kia đốt một phong thì mình đốt hai phong.Năm ngoái ông Sáu đốt một thước pháo,năm nay mình sẽ đốt phong pháo dài thước rưỡi hoăc hai thước.Tuy nhiên sự ganh đua đó cũng có chừng mực.
Sau 1975, sự ganh đua giữa các ông cán tai to mặt lớn càng công khai,càng ầm ĩ, trong khi đó dân nguỵ ta chỉ thờ ơ đốt pháo chiếu lệ theo cổ truyền chứ lòng không vui.
Có những ông cán đốt phong pháo dài từ lầu ba xuống đất. Phần lớn xài pháo trung,hoặc pháo trung gắn kèm pháo đại.Trẻ con thì chuyên đốt pháo đại.
Bây giờ cái phong tục tốt đẹp của đốt pháo trở thành một tai họa. Trước 1975, thỉnh thoảng người ta mới bị pháo văng trúng,làm cháy áo quần hoặc bị thương tích.Bây giờ chuyện này trở thành hiển nhiên. Trước tết cũng như sau tết, trẻ con đốt pháo thả cửa. Chúng ném pháo vào người đi đường. Chúng đốt pháo bất cứ nơi nào dù là giữa đường đông người qua lại. Nhất là các cô gái trở thành mục tiêu của sự đùa giỡn man rợ này.Công An trông thấy cũng làm ngơ vì họ chỉ đối phó với bọn phản động chứ du đảng hay trộm cắp họ chẳng quan tâm, vì bắt rồi cũng phải thả chứ chỗ đâu mà chứa, cơm đâu mà nuôi!
Như trên đã nói ,có làng nam nữ đốt pháo ném vào nhau,nhưng ném cách nào đây? Ném xa hay ném vào mặt,vào áo quần người ta? Dẫu sao,những ngườI đã đến tham dự cuộc ném pháo,là họ đã chấp nhận, còn trẻ con, thiếu nữ, ông bà già đang đi ở chỗ thị thành đông người bỗng nhiên bị ném pháo vào ngườI thì không ai có thể chấp nhận.
Khoảng 1990,Trung quốc cấm pháo. Và sau đó Việt Nam cũng cấm pháo. Dân chúng xôn xao bàn tán.Vì chính trị hay vì kinh tế đây?
Chắc là vì chính trị, quân sự. Cộng sản len lỏi vào học đường, vào tôn giáo cho nên hai khu vực này họ kiểm soát rất chặt chẽ.Cộng sản dùng bãi tha ma chôn vũ khí cho nên bây giờ người chết không được yên mồ, cộng sản hết hủy bỏ nghĩa trang này đến nghĩa trang khác.Và họ đã từng lợi dụng dụng tiếng pháo xuân để tấn công cho nên bây giờ họ cũng sợ các lực lượng kháng chiến tấn công họ trong dịp tết.
Nếu chủ về kinh tế, họ phải chuẩn bị việc đổi ngành nghề cho dân chúng, và đi từ từ, từ hạn chế đến cấm tuyệt , bởi vì chính quốc doanh cũng sản xuất rất nhiều pháo!
Đồng bào ở quốc nội không được đốt pháo,chúng ta ở hải ngoại tuy tự do cũng không thể đốt pháo.Bởi vì người láng giềng của ta, những ông police ở khu vực ta là người Âu châu, Mỹ châu không quen việc đốt pháo.Nghe tiếng pháo họ rất sợ vì lầm tưởng tiếng bom đạn giao tranh.Thấy lửa cháy sáng ,họ sợ hỏa hoạn. Không ai cấm ta nhưng ta lại không muốn làm phiền họ vốn là những con người lịch sự, ưa hòa bình và thanh tĩnh, cho nên ta đành quên đi cái tục lệ đáng yêu đáng quý của ta.Nhập gia tuỳ tục là thế đó! Trong cộng đồng ta, khi tổ chức tết cũng đốt pháo nhưng là pháo điện lẹt xẹt nghe chán mớ đời!
Sau muời năm , hai mươi năm nữa,lớp trẻ lớn lên ở trong nuớc và ngoài nước sẽ không biết cái pháo là cái gì.Pháo cũng như bao sự vật khác như cây đu,khung cửi, con thoi,cái khố, áo tứ thân, nón găng, quạt lông.. . sẽ đi vào quên lãng.
Sơn Trung
__________
Chú thích:
Đào Duy Anh,Trung Hoa Sử Cương,Bốn Phương,1954,tr.137-138. Cuối đõi Minh,ngườI Trung quốc lại mua súng của ngườI Tây phương.
Trần Trọng Kim,Viêt Nam Sử Lược,Tân Việt Saigon,in lần 6,tr.140
(3) Lê Quý Đôn,Vân Đài LoạiNgữ II,QVKDTVH,Saigon,1972,tr.77,78.
(4) (5) như trên.
Recent Comments