Sontrung's Weblog

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG June 24, 2008

 

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
 
Phạm Đức Liên,Ph.D
Nguyên giảng sư Trường Đại Học Cộng Đồng Central Piedmont, North Carolina,Hoa Kỳ

“Mồng mười tháng ba,
Có đi giỗ tổ mới là người Nam”

I. Nguồn gốc những vị vua đầu tiên của Việt Nam:từ năm 2879 đến năm 258 trước tây lịch
Về nguồn gốc của những vị vua đầu tiên của Việt Nam, chúng ta chỉ có những truyện thần thoại hoang đuờng.Dù biết là mơ hồ,nhưng những câu truyện dó vẫn được kể từ người này qua người kia, và truyền khẩu từ đời này sang đời khác.

Nước Văn Lang
Đền thờ Quốc tổ tại Phú Thọ

Dù là biết không xác thực nhưng đó là nguồn gốc vô cùng thiêng liêng, ăn sâu vào tâm khảm mọi người, như nhắc nhở chúng ta cùng hướng về vùng núi đồi làng Cổ tích, tỉnh Phú Thọ ( hiện nay còn nhiều dấu tích).
Tục truyền rằng vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú ở phương Nam ( tỉnh Hồ Nam,Trung Hoa),lấy một nàng tiên và đẻ ra con trai tên là Lộc Tục. Đế Minh truyền lại cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua ở phương bắc và phong Lộc Tục làm vua ở phương Nam ( Kinh Dương vương, năm 2899 trước Thiên chúa ). Kinh dương vương đặt quốc hiệu là Xích quỷ và lãnh thổ: phía bắc gíáp Động Đình hồ ( Hồ Nam ) , phía nam giáp nước Chiêm Thành, phía đông là biển Nam hải,và phía tây giáp Ba Thục ( Tứ Xuyên). Có sách chép lãnh thổ của nước ta bao gồm hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ( Trung Hoa) và một phần nước Ai Lao.
< Kinh Dương vương lấy con gái Động Đình quân là Long nữ, sanh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long quân. Lạc Long quân lấy con gái vua Đế Lai là Âu Cơ, đẻ ra một trăm trứng và nở thành một trăm con trai: khỏe mạnh,đẹp đẽ và thông minh phi thường. Một hôm Lạc Long quân mới nói với bà Âu Cơ:” Ta là giống rồng, mình là dòng Tiên, e rằng thủy hỏa xung khắc, nên phải chia ly.Ta đem 50 con xuống biển Nam Hải, nàng mang 50 con lên núi. Khi hiểm nghèo thì báo cho nhau biết,và nhớ: đừng quên nhau.” Bà Âu Cơ đem 50 trai lên đất Phong Châu ( tỉnh Vĩnh Yên ) và tôn người con trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng vương(hay Lạc vương),đặt tên nước là Văn Lang. Chúng ta là” con Rồng cháu Tiên” là do truyền thuyết này.

Ven bờ Hồng hà,PhúThọ
Trẩy hội ĐềnHùng,MạnhQuỳnh 1942

Hùng vương làm vua ( cha truyền con nối) được 18 đời. Nếu tính từ Kinh Dương vương ( năm nhâm tuất 2879 trước Thiên Chúa ) cả thảy 2621 năm. Các vua Hùng vương ( họ Hồng bàng ) là thủy tổ của dân tộc Việt Nam, có công gây dựng nên nước ta, với những nền móng căn bản của xã hội Việt Nam thời xưa rất tôn ti trật tự. Hùng vương đóng đô ở Phong Châu ( Bạch Hạc, Vĩnh Yên), quan văn gọi là Lạc hầu, quan võ đặt là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua đặt là Mị nươngvà các quan nhỏ gọi là Bồ chính , dân chúng đặt là Lạc dân. Nước Văn Lang được chia ra 15 bộ hay quận. Sau đây là tên 18 vị Lạc vương đời Hồng Bàng:
Kinh Dương vương ( Lộc Tục,từ năm 2879 trước Tây lịch)
Hùng Hiền vương ( Sùng Lãm, Lạc Long quân)
Hùng quốc vương ( có Chữ Đồng Tử )
Hùng Hoa vương ( Sự tích trầu cau )
Hùng Hy vương
Hùng Huy vương ( tục bánh dày, bánh chưng và truyện Phù Đổng Thiên vương )
Hùng Chiêu vương
Hùng Vi vương
Hùng Định vương
Hùng Uy vương
Hùng Trịnh vương
Hùng Vũ vương
Hùng Việt vương
Hùng Anh vương
Hùng Triệu vương
Hùng Tạo vương
Hùng Nghị vương
Hùng Truyền vương : với truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh,và năm 258 trước Thiên Chúa, họ Hồng Bàng bị nhà Thục ( một họ ở cạnh nước Văn Lang ) chiếm mất nước. Hùng vương thua chạy, nhảy xuống giếng tự tử.
 


Cổng tam quan ĐềnThượng,ảnh Trần Cao Lĩnh)

Lăng các vua Hùng núi Nghĩa Cương,tranh Mạnh Quỳnh 1942)

II.Đền Hùng : vùng đồi núi hùng vĩ, nghiêm trang làng Cổ Tích, Phú Thọ ( cách Hà Nội 100km)
Với 4878 năm lập quốc ( từ 2879 trước tây lịch đến ngày nay 1999 ), như thế là gấn năm ngàn năm văn hiến- cho dẫu mơ hồ, huyền hoặc về nguồn gốc của tổ tiên- chúng ta đều có một kết luận chung làm : Kinh Dương vương đã lập nước ở lưu vực sông Dương Tử, nơi đó có hàng trăm bộ tộc được gọi là Bách Việt sinh sống. Lạc Việt của quốc tổ Hùng vương là bộ tộc hùng mạnh nhất đã tồn tại, tiến về phía nam và định cư ở châu thổ sông Hồng hà, sông Mã, lập ra nước Văn Lang .
Và giờ đây là di tích những buổi bình minh của lịch sử ” Con Rồng Cháu Tiên”. Chúng ta đi tìm vết tích của họ Hồng Bàng : Đền Hùng, nơi thờ 18 vua Hùng vương.
Đền Hùng được vua Thục Phán ( tức vua An Dương Vương, từ năm 257 đến năm 207 trước TC ) xây năm 208 trước Tây lịch ,tại ngọn núi cao nhất Phú Thọ : núi Nghĩa Cương,hay Nghĩa Lĩnh hay Hùng Sơn hay núi Đền ( thuộc làng Cổ Tích hay Hy Cương, phủ Lâm Thao; nơi đây, thời các vua Hùng vương gọi là bộ Phong Châu). Núi đồi làng Cổ Tích là một vùng cây cỏ xanh tươi với dáng dấp nhấp nhô, lượn khúc theo các dòng sông của thế đất vùng trung du Bắc phần. Đặc biệt từ đỉnh Hùng Sơn , nhìn những mô đất , những gò đá như là những mâm xôi mà thiên nhiên đã dành cho dân Lạc Việt-dâng lên quốc tổ. Xa xa là núi Tam Đảo ( Vĩnh Yên ) và núi Tản Viên ( Sơn Tây ). Từ chân núi lên đỉnh núi Nghĩa Cương có ba đền là :

Đền Hạ, ở ngay chân núi, thờ hai công chúa : Tiên Dung Mỵ Nương và Ngọc Hoa Mị Nương là con gái vua Hùng Vương thứ 18.
Đền Hạ còn đưọc gọi là Đền Giếng vì có giếng nước trong suốt, mà dân chúng tin rằng uống vào như uống nước thiêng của Lạc Vương.

Đền Trung ở lưng chừng núi, thờ các danh nhân thời Hồng Bàng: Chữ Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương và các Lạc hầu, Lạc Tướngv. v…Trước đền có nhiều tâm bia đá ghi công đức của 18 vua Hùng Vương, các nét chữ đã mòn gần hết nên không đọc được nữa.

Đền Thượng, trên đỉnh núi. Muốn lên đền Thượng, những người hành hương phải leo 296 bậc gạch. Đền Thượng gồm có sáu gian ngoài, gọi là” Đại Bái” để tế lễ và ba gian trong, gọi là ” Hậu cung ” để thờ các vua Hùng với dòng chữ “Đột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thánh vương vị” ( có nghĩa là Núi cao chót vót nước Cổ Việt họ Hùng mười tám vị thánh vương ). Đặc biệt trong đền Thượng có hai cây mác mũi nhọn làm bằng sừng hươu. Trên bàn thờ có tượng ( đắp bằng đất, bên ngoài quét sơn ) vua Hùng Vương và Hoàng Hậu, Công chúa. Ngày kị của vua Hùng Vương là là ngày 10 tháng ba âm lịch, kị Hoàng Hậu vào ngày 15 tháng 5 và kị Công chúa là ngày 12 tháng giêng.

Bên ngoài đền Thượng là lăng các vua Hùng, có bia đá khắc chữ : Quốc tổ Hùng Vương lăng. Bên cạnh là những bia đá khắc văn thơ đề vịnh của các danh nhân.

 

Đền thờ Hùng vương tại Thảo Cầm Viên, Sàigon, ảnh Trần Cao Lĩnh


Dưới đây là thơ ” Vịnh Đền Hùng ” của Lương Hồ Nguyễn Trung Khuyến:

 
Nước thẳm sông Thao, núi Tản xa,
Văn Lang muôn thủa nước non nhà.
Miếu lăng nền cũ hương còn đậm,
Mưa nắng bia xưa nét chửa nhòa.
Đất bốn nghìn năm công đức tổ,
Người hai mươi triệu giống nòi ta.
Này nơi nguồn gốc chung nhau đó,
Nhớ lấy ai ơi kẻo nữa mà …

Năm nay ,giỗ tổ Hùng vương nhằm vào ngày chủ nhật 25 tháng tư năm 1999 ( tức ngày 10 tháng ba năm kỷ mão ).
Phạm Đức Liên

Tài Liệu Tham Khảo:

Indochine, Hebdomadaire ilustrée, 1942
K.A..Appiah and H.L.Gates, The Dictionary of Global Culture, 1997.
Bernard Grun, The TimeTables of History, 1991.
J.M.Roberta, A Short Story of The World ,1993.
Karnow Stanley, A History -The first complete account of Vietnam at war, 1983.
Cơ sở Đông Tiến, Nước Tôi Dân Tôi.
Đỗ Trọng Huề,Đi Tìm Dấu Vết Hùng Vương.
Hà Mai Phương, Lược Sử Văn Minh Việt Nam.
Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam và tranh mộc bản Việt Nam.
Phạm Cao Dương, Lịch Sủ Dân Tộc Việt Nam thời lập quốc )
Phạm Đức Liên,Bình Minh Lịch Sử Việt Nam (và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí Việt Mỹ) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược.

 

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.