Sontrung’s Weblog

Tin Tức Tháng Sáu 24, 2008

Tin Tức

Tin Quốc Nội

Kinh tế khủng hoảng, thiếu tiền tiêu xài,nhân dịp Tết Kỷ Mão, nhà cầm quyền Hà Nội đã phát hành mỗi ngày 150 tỷ ,trong suốt 13 ngày nâng tổng số lạm phát thêm khoảng hai ngàn tỷ đồng Việt Nam.Chính quyền cộng sản có nhiều quyền tự do, trong đó có quyền tự do bắt giam người vô cớ, tự do tiêu xài và tự do in giấy bạc. ” In bạc giấy, Đổi lấy đô la, Gửi qua Thụy Sĩ.” Và cũng vì đồng bạc Việt Nam ngày càng mất giá, dân chúng và cán bộ chuyên xài vàng và đôla.
Tại Việt Nam có nhiều địa phương thiếu bác sĩ, nhưng lại có khoảng ba ngàn bác sĩ thất nghiệp bởi vì những y tá chuyên tu thành bác sĩ còn ngự trị khắp nơi và bác sĩ mới ra trường không đủ vàng hối lộ( khoảng 4 -10 cây vàng tùy nơi) để làm việc không công tại các bệnh viện.Các bác sĩ không muốn về nơi thôn quê hoăc núi rừng hẽo lánh bởi vì:

Những chỗ này nghèo đói, thiếu an ninh,thiếu phương tiện, lại dễ bị cường hào đàn áp.
Một khi ra đi khỏi thành phố là khó trở lại vì chính sách hộ khẩu khắt khe của cộng sản.Thà ở lại thành phố chịu thất nghiệp,hoặc làm công việc khác còn sướng hơn làm bác sĩ tại thôn quê hay miền rừng núi.
Trước đây, cộng sản đã chia vùng, chia sinh viên( thí dụĐại Học Y Khoa Sàigòn lấy Cần Thơ 10 sinh viên y khoa,Mỹ Tho 8 sinh viên y khoa,Đại Học Y Khoa Huế lấy Quảng Nam 10 sinh viên y khoa, Quảng bình 5 sinh viên y khoa…) để cho các ông lớn mỗi tỉnh toàn quyền chọn người theo học,hoặc mua bán, chia chác và hy vọng sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ trở lại quê nhà phục vụ đảng và nhân dân, nhưng sinh viên sau khi tốt nghiệp thì một đi không trở lại!

Đầu năm âm lịch,trung ương đảng C.S họp để bàn phương sách cứu nguy kinh tế, đồng thời cũng xếp đặt lại nhân sự một chút để đưa phe ta vào thêm, đẩy phe nó ra ngoài hoặc tước bớt quyền hành.

Hải Ngoại.

Trước tết kỷ mão, nhân dân Việt Nam tại Nam Cali đã biểu tình tỏ sự bất bình đối với Trần Văn Trường trong việc y đã treo cờ cộng sản và hình ông Hồ. Sự kiện này cho thấy cộng sản ban đầu ẩn hình,giả dạng vượt biên, đoàn tụ gia đình, nay thì bắt đâu lò đuôi cộng sản. Ban đầu cảnh sát Mỹ ra lệnh hạ cờ CS nhưng sau đó tòa án Mỹ lại cho y được quyền treo cờ. Đồng bào ta vẫn không lùi bước,trong mấy ngày tết kỷ mão vẫn kiên quyết đấu tranh, biểu tình chống cộng sản.Ngày 25 tháng hai 1999,đồng bào Việt Nam đã biểu tình thị uy trước tòa đại sứ Việt cộng tại San Francisco, Mỹ.
Thượng nghị sĩ Pháp, Michel Pelchat, là một trong những người vận động thành lập Hội Đồng Quốc Tế cho Dân Chủ Việt Nam( International Council for Democracy in Vietnam).Hội đồng này ra đời ngày 4 tháng 12 năm 1998 tại trụ sở quốc hội Âu Châu -Bruxelle ,đúng vào dịo kỷ niệm 50 tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp quốc. Ông Yvan de Wynter , chủ tịch ủy ban Người Bỉ cho dân chủ tại Việt Nam đã đọc diễn văn khai mạc. Về cộng đồng người Việt có giáo sư Nguyễn Ngọc Bích,và các ôngTrần Mạnh Quỳnh, Phạm Văn Thành tham dự.

Quốc Tế

Tổng thống Clinton đã được thượng viện tha bổng trong khóa họp ngày 11 tháng hai năm 1999.Tổng thống đã lên tiếng bày tỏ lời hối tiếc và xin lỗi công khai.
Mối bang giao giữa Ấn Độ và Pakistan ngày thêm chặt chẽ. Hai nước đã khai trương đường xe buýt nối liền hai quốc gia đã từng chia cách non nủa thế kỷ.

 

ETERNAL LOVE FOR YOUR SUNDAY Tháng Sáu 24, 2008

Chuyên mục: Bên Kia Bờ Đại Dương 004, English, Trần Diệu Chân — sontrung @ 1:25 chiều
Tags: , , ,

ETERNAL LOVE FOR YOUR SUNDAY

Red roses were her favorites, her name was also Rose.
And every year her husband sent them, tied with pretty bows.
The year he died, the roses were delivered to her door.
The card said, “Be my Valentine,” like all the years before.
Each year he sent her roses, and the note would always say,
“I love you even more this year, than last year on this day.”
“My love for you will always grow, with every passing year.”
She knew this was the last time that the roses would appear.
She thought, he ordered roses in advance before this day.
Her loving husband did not know, that he would pass away.
He always liked to do things early, way before the time
Then, if he got too busy, everything would work out fine
She trimmed the stems, and placed them in a very special vase.
Then, sat the vase beside the portrait of his smiling face.
She would sit for hours, in her husband’s favorite chair.
While staring at his picture, and the roses sitting there.
A year went by, and it was hard to live without her mate.
With loneliness and solitude, that had become her fate.
Then, the very hour, as on Valentines before,
The doorbell rang, and there were roses, sitting by her door.
She brought the roses in, and then just looked at them in shock.
Then, went to get the telphone, to call the florist shop.
The owner answered, and she asked him, if he would explain,
Why would someone do this to her, causing her such pain?
“I know your husband passed away, more than a year ago,”
The owner said, “I knew you’d call, and you would want to know “
“The flowers you received today, were paid for in advance.”
“Your husband always planned ahead, he left nothing to chance.”
“There is a standing order, that I have on file down here
And he has paid, well in advance, you’ll get them every year.
There also is another thing, that I think you should know,
He wrote a special little card…he did this years ago.
” “Then, should ever, I find out that he’s no longer here,
That’s the card…that should be sent, to you the following year
. ” She thanked him and hung up the phone, her tears now flowing hard.
Her fingers shaking, as she slowly reached to get the card.
Inside the card, she saw that he had written her a note.
Then, as she stared in total silence, this is what he wrote…
“Hello my love, I know it’s been a year since I’ve been gone,
I hope it hasn’t been too hard for you to overcome.
“I know it must be lonely, and the pain is very real
For if it was the other way, I know how I would feel.
The love we shared made everything so beautiful in life.
I loved you more than words can say, you were the perfect wife.”
“You were my friend and lover, you fulfilled my every need.
I know it’s only been a year, but please try not to grieve.
I want you to be happy, even when you shed your tears.
That is why the roses will be sent to you for years.”
“When you get these roses, think of all the happiness,
That we had together, and how both of us were blessed.
I have always loved you and I know I always will.
But, my love, you must go on, you have some living still.”
“Please…try to find happiness, while living out your days.
I know it is not easy, but I hope you find some ways.
The roses will come every year, and they will only stop,
When your door’s not answered, when the florist stops to knock.”
“He will come five times that day, in case you have gone out.
But after his last visit, he will know without a doubt,
To take the roses to the place, where I’ve instructed him,
And place the roses where we are, together once again.”

Tran Dieu Chan

vinsight@best.com)

URL: http://www.vinsight.org/

 

Những Nét Tiêu Biểu Của Nền Văn Minh Việt Nam Tháng Sáu 24, 2008


 

 

 

Những Nét Tiêu Biểu Của Nền Văn Minh Việt Nam

Vọng Đông

Nói theo ngôn ngữ chủng học, Việt Nam là một trong những cái nôi loài người, thì nền văn minh Việt Nam cũng là nền văn minh cổ nhất thế giới nói chung và Châu Á nói riêng. Danh xưng Lạc Việt, Đại Việt và Đại Nam biểu trưng ba sắc thái đặc biệt của nền văn minh Việt Nam, trải qua ba thời kỳ dài hơn bốn nghìn năm của lịch sử dân tộc.

Cần phân tích những nét tiêu biểu của nền văn minh Việt Nam trong ba thời kỳ nói trên để thấy rõ nó là một thực thể khác biệt với các nền văn minh khác, nhất là các nền văn minh mà nó có liên hệ, gần gũi như văn minh Chàm, văn minh Trung Quốc.

Nền văn minh Lạc Việt (từ khởi thủy đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên) xuất hiện với tất cả vẻ rực rỡ huy hoàng của một nền văn minh nông nghiệp mà đỉnh cao là ở thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ đồng thau phát triển (thời kỳ Đông Sơn).

Nói thời kỳ Hùng Vương là thời kỳ tiêu biểu của nền văn minh Lạc Việt bởi vì nó mang tính chất khai sáng ở tất cả các mặt.

Về mặt kinh tế xã hội, nghề nông trồng lúa nước là cơ sở phát khởi cho mọi nguồn sinh hoạt. Trên cơ sở đó, ý thức xây dựng và bảo vệ đời sống phát triển. Ngành thủ công nghiệp ở thời kỳ Hùng Vương đã để lại nhiều công trình độc đáo về đồ đồng (lưỡi cầy cuốc, rìu, vũ khí như đao, tên, mũi lao, các loại chậu, thạp, … và điển hình nhất là trống đồng), đồ sắt (như cuốc, rìu, mai, vũ khí như kiếm, giáo), đồ gốm (đồ đựng và đun nấu như nồi, vò, bình chậu, bát đĩa …), đồ đá (dụng cụ sản xuất như rìu, lưỡi đục, chày, bàn mài), đồ trang sức bằng đá (như vòng đeo đủ kiểu), đồ gỗ (vũ khí như lưỡi giáo). Các nghề cũng khá phát triển như nghề sơn, nghề xe sợi kết vải (bằng bông, đay, gai), nghề đan lát (bằng tre nứa). Riêng về trống đồng là những tác phảm tập trung nhiều tài năng về kỹ thuật, mỹ thuật và khoa học, đáng kể là trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ.

Làng xã là ý thức sơ khởi của tổ chức xã hội, trong đó gia đình phụ hệ là nền tảng. quyền tư hữu tài sản về ruộng đất cũng đã manh nha trong buổi đầu. Tất cả cơ bản của nền văn minh nông nghiệp ấy đã tồn tại hàng ngàn năm sau.

Về mặt văn hóa, những gì còn tồn tại đến nay và còn được gọi là truyền thống dân tộc cũng phát xuất từ thời Hùng Vương như tín ngưỡng (thờ thần), phong tục (hôn nhân, tang lễ), hội lễ (hội hè đình đám ngày xuân) …

Nền văn minh Đại Việt kế tiếp (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 18), biểu hiệu ở tất cả các mặt những đặc điểm của một dân tộc đã trưởng thành sau một nghìn năm khổ nhục vì ách Bắc thuộc. Những ý thức và khả năng xây dựng đời sống toàn thiện đã lắng chìm trong giấc ngủ nghìn năm ấy để bừng dậy với tất cả sức sống mãnh liệt của dân tộc ở thời kỳ độc lập.

Vì vậy, nền văn minh Đại Việt biểu dương ở nhiều mặt và có tính chất phong phú toàn diện.

Ở thời kỳ này, chế độ quân chủ đã được thành lập và tổ chức xã hội dựa trên sự cấu tạo của bốn tầng lớp: sĩ, nông, công, thương. Tuy nông nghiệp đặt xuống hàng thứ yếu nhưng không chính quyền nào chối bỏ vai trò quan trọng của nông nghiệp đối với sự tồn tại của xã hội, đã ban hành nhiều chính sách, chủ trương nhằm bảo vệ, cải tiến nông nghiệp và hiệu năng hóa sản xuất.

Khuôn khổ gia đình đã mở rộng thành gia tộc. Xã thôn vẫn là đơn vị tự trị, nhưng còn phải đóng vai trò liên hệ trong toàn bộ. cơ cấu xã hội, đó là quốc gia. và ý thức quốc gia bắt đầu nẩy nở thành sức mạnh tinh thần của dân tộc.

Do đó, dân tộc Đại Việt đã hiên ngang đứng lên đánh đuổi những thế lực cường bạo bao lần muốn xâm chiếm lãnh thổ của mình. Có thể ghi nhận những võ công của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung đã làm rạng danh quốc gia Đại Việt.

Khi xã hội phát triển thì các tổ chức nhằm củng cố xã hội cũng trở nên phức tạp. Quan chế, binh chế, pháp chế được thiết lập. Nét tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt được biểu lộ khá rõ về mặt pháp chế, nhất là dưới triều Lý và triều Lê.

Dưới triều Lý, bắt đầu có pháp luật thành văn với bộ Hình Thư, quy định các hình phạt về tội thập ác (hình luật) và chỉ dụ của nhà vua về việc mua bán, tranh tụng ruộng đất (hộ luật). Người phạm tội, trừ khi phạm tội thập ác, được lấy tiền chuộc tội. Do ảnh hưởng Phật Giáo, pháp luật triều Lý mang nhiều tính chất đặc biệt như: tôn trọng nhân quyền, áp dụng chính sách cải quả đối với tội nhân …

Dưới triều Trần, có bộ Quốc Triều Hình Luật quy định ba hạng tội nặng: tội đồn, khắc chữ vào trán và bắt cày cáy công điền; tội lưu, đày đến châu Ác Thủy (Quảng Yên); tội tử, bị chém. Pháp luật triều Trần nghiêm khắc hơn cả.

Dưới triều Lê, có bộ Luật Hồng Đức, mang nhiều tính chất dân tộc, phù hợp với điều kiện xã hội và tôn giáo, tiến bộ về mặt kỹ thuật pháp lý, nên ảnh hưởng còn tồn tại đến ngày nay.

Đa số luật pháp ở thời kỳ này chú trọng nhiều về hình luật, ít chú trọng về hộ luật và dân luật.

Về mặt chính trị xã hội, Hồ Quý Ly đã có những công cuộc cách mạng quốc gia tiến bộ và đi trước thời đại.

Về phong tục, dân Đại Việt đã có những cung cách trang nhã trong đời sống, các tập quán, lễ nghi thuần hậu.

Về tín ngưỡng, đã có một sự hòa đồng kỳ diệu giữa ba tôn giáo Nhọ Phật, Lão và sự hòa đồng này có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tinh thần của dân Việt.

Khi đất nước độc lập thì văn tự cũng được hình thành một lối riêng, chữ nôm là một sáng tạo của dân tộc để diễn đạt tư tưởng của mình. Vì vậy, có triều đại muốn bảo vệ nền độc lập tư tưởng đã khuyến khích sử dụng văn nôm như triều Hồ, tây Sơn.

Đặc sắc của nền văn minh Đại Việt, về mặt văn học là đã phát triển song song hai bộ phận: văn học truyền khẩu và văn học thành văn. Hiếm thấy trên nền văn học thế giới một nền văn học truyền khẩu như của Đại Việt, rất phong phú ở nhiều phương diện: truyện cổ tích, truyện cười, tục ngữ, ca dao. Về văn học thành văn, có thể nói đó là một nền văn học bác học bởi đã tập trung nhiều khối óc lớn và bao gồm các ngành như Lê Quý Đôn (văn học), Ngô Sĩ Liên (Sử Học), những ngọn bút tài hoa (văn chương) như Đặng Trần Côn (Tác giả Chinh Phụ Ngâm Khúc), Đoàn Thị Điểm (dịch giả chinh Phụ Ngâm), Nguyễn Gia Thiều (tác giả Cung Oán Ngâm Khúc). Các thể văn được sáng tạo thích hợp với ngôn ngữ Việt giàu âm điệu là thể lục bát và song thất lục bát.

 

Về các ngành nghệ thuật, tranh mộc bản Việt là một loại tranh dân gian mang tính chất dân tộc độc đáo, cũng như một số nhạc khí dân tộc, tiêu biểu là đàn Bầu (một dây).

Trong kịch nghệ, có loại hát chèo mang nhiều ưu điểm và tính chất dân tộc rõ rệt.

Về khoa học, dù là một nền khoa học kinh nghiệm, Đại Việt cũng đã có những nhân tài về y học như Tuệ Tĩnh với khoa y dược dân tộc, Hải Thượng Lãn Ông với khoa đông y. Về thiên văn như Trần Nguyên Hãn soạn sách nghiên cứu thiên văn và lịch pháp. Đặng Lộ chế ra dụng cụ xét nghiệm thiên tượng. Hồ Nguyên Trừng chế ra súng hỏa mai.

Qua đến thế kỷ 19, xã hội Việt Nam lại biến chuyển và khai sinh một nền văn minh mới, văn minh Việt Nam, trong buổi đầu mang tinh thần văn hiến Đại Nam, đến thời Pháp thuộc tính chất Việt Nam mới nẩy sinh.

Ở thời kỳ này, công cuộc khẩn hoang lập ấp và dinh điền là một chính sách kinh tế mới, cũng như nội thương và ngoại thương là hai mặt phát triển của ngành thương mãi quốc gia.

Các công cuộc mở mang lớn được thực hiện: đường sá, cầu cống, kênh ngòi, kho vựa, thành phố, thương cảng …

Vua Gia Long là người đã có ý thức canh tân xứ sở theo đường lối Tây Phương. Dưới triều vua này đã có một quân lực hùnhg mạnh nhất ở bán đảo Đông Đương. Chính vua Gia Long đã thấy trước được Nhật Bản 60 năm là khoa hoc. Tây Phương có thể giúp cho nước nhà chóng phát triển và ông đã dùng những người Tây Phương ở bên cạnh như là những cố vấn kỹ thuật. Ông cũng đã khuyên ngăn con là vua Minh Mạng nên hậu đãi người Âu (đặc biệt là Pháp), song không cho họ một đặc quyền gì, nhưng đáng tiếc là vua này không nghe lời khuyên ấy, cũng như các vua về sau, nhất là Tự Đức không lưu ý đến các đề nghị cải cách quốc gia của Nguyễn Trường Tộ với những ý kiến sáng suốt là hoài bão, là ý chí, niềm tin của người Việt thiết tha với tiền đồ xứ sở và là tấm gương muôn đời cho hậu thế. Tinh thần Nguyễn Trường Tộ về sau, trong thời kỳ Pháp thuộc đã biểu lộ ở các hoạt động của phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục (duy tân) và rộng ra ở tất cả mọi hoạt động cách mạng của các chí sĩ yêu nước.

Một biện pháp cải tạo xã hội tốt đẹp ở thời kỳ này là vấn đề cứu tế xã hội để chống nghèo đói và bệnh tật của các tầng lớp nhân dân.

Đặc điểm của thời kỳ văn hiến Đại Nam là kho tàng văn học, chữ Hán, chữ Nôm và ở thời kỳ Pháp Thuộc là chữ quốc ngữ. Đáng lưu ý là Phan Huy Chú với bộ Lịch Triều Hiến Chương, một bộ bách khoa toàn thư có giá trị lớn. Nguyễn Du, một thiên tài văn chương đã để lại nhiều tác phẩm tuyệt diệu cả hai mặt hán và Nôm, với truyện Kiều là một áng văn bất hủ. Một Hồ Xuân Hương với thi tài độc đáo. Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát với những bài hát nổi danh. hát nói là một thể thơ được sáng tạo từ thể lục bát và song thất lục bát và xuất hiện ở thời kỳ này.

Trong thời Pháp thuộc, ý thức xây dựng quốc văn phát triển, nâng cao Việt ngữ thành một công cụ truyền đạt tư tưởng một cách dề dàng hơn các loại chữ ở thời trước.

Sự đóng góp của các nhóm Nam Phong Tạp Chí, Đông Dương Tạp Chí và đáng kể nhất là nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở hai mặt truyền bá văn học và tư tưởng xã hội tiến bộ.

Thơ văn yêu nước và cách mạng xuất hiện ở thời kỳ này là lợi khí đấu tranh chống Pháp, phản ảnh ý chí bất khuất kiên cường của dân tộc Việt và làm giàu kho tàng văn học.

Về mặt nghệ thuật, loại tranh sơn mài và tranh lụa (cũng như tranh mộc bản cổ truyền) là những sáng tạo riêng biệt của người Việt.

Các công trình kiến trúc lăng tẩm và Đại Nội ở Huế, cũng như một số đồ sành sứ mệnh danh là “đồ sứ mem lam Huế” (Blue de Hue – đồ ký kiểu ở Tàu để vua chúa đời Nguyễn dùng) đã làm ngạc nhiên các du khách nước ngoài.

Các loại ca nhạc cung đình cũng như ca nhạc dân gian mà điển hình là các điệu hò hát, đã để lại những âm hưởng bất diệt trong lòng người Việt muôn thuở.

Nói chung, những gì tồn tại đến ngày nay hay đã mất mát một phần hoặc hoàn toàn mà những vang bóng vẫn còn trong lòng người, đều là những nét tiêu biểu của nền văn minh Việt Nam ở ba thời kỳ nói trên.

 

Thơ Xuân Vũ Hoàng Chương Tháng Sáu 24, 2008

 

 

Thơ Xuân Vũ Hoàng Chương

Đặng Tiến

Gửi chị Thục Oanh

 

Xuân đã đem mong nhớ trở về

 
Câu thơ Nguyễn Bính, ý thường thôi. Lời e cũng thường thôi. Nhưng dư vang vô tận, xoáy sâu vào tâm tư khách xa quê, nhất là những kẻ không có ngày về. Xuân đã … đau lòng một chữ đã. Xuân đã. Người chưa. Những lỡ làng và những bẽ bàng. 

 
Lần này, ở đây, Xuân đã đem mong nhớ trở về Vũ Hoàng Chương, người bạn thơ, bạn kịch cũ càng với Nguyễn Bính Lỡ Bước Sang Ngang.
Mùa xuân thương nhớ mùa Xuân.
Nói đến thơ xuân Vũ Hoàng Chương, cái bồi hồi lẫn chút bùi ngùi. Có hay không có, mùa xuân trong thơ đấng trích tiên, đã tự giam thơ giam đời trong mươi chữ :
Xuân đời chưa kịp hưởng
Mây mùa thu đã sang ?
Nhà thơ đã tự tình như thế, ở tuổi chưa đến ba mươi, trong tập thơ Mây. Người còn giăng tơ tâm sự
Xuân có sang mà hoa không tươi
ý ngát hoài chăng hề tuổi chớm ba mươi
Nằm say ngõ lạnh
Buồn nghe mưa rơi
Tuôn châu oà bật lên cười
Ta có là ta chăng hề Ai chớ là Ngươi
Chậu sành tiếng đập ngàn năm cũ
Hoạ điệu chiều nay xác rã rời
Và từ đó, hay trước đó, với Vũ Hoàng Chương, tất cả những mùa Xuân đều là :
Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay
Đã có nhiều người nói, và nói có cơ sở là men rượu và khói thuốc đưa thơ Vũ Hoàng Chương ra khỏi không gian ; và thơ Đường, thơ Tống, người đẹp Liêu Trai đưa thơ ông ra khỏi thời gian. Điều đó có thật, nhưng con người dù là người thơ, vẫn còn xương còn thịt chuyển động theo bốn mùa mưa nắng. Và cả bốn mùa đều in nét trong thơ Vũ Hoàng Chương.
Tác phẩm đầu lòng Thơ Say in năm 1940 gồm những sáng tác buổi hoa niên, nhưng hoạ hoằn lắm mới ánh lên một nét tươi xuân.
Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về
Cỏ chen màu liễu biếc chân đê
Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy
Hương sắc thanh bình ngập lối quê.
Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi
Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời
Dây đàn chầm chậm hôn lên phím
Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi
Thơ Say gồm có nhiều phần : Say, Mùa, Yêu, Lỡ Làng … Phần Mùa chỉ có hai bài thơ ngắn, bài Dịu Nhẹ tả cảnh mùa xuân trên đây, bài sau là Mùa Thu Đã Về. Thơ Mùa đề tặng â?em Vânâ??, người yêu trong mộng. Chủ đề Mùa chứng tỏ nhà thơ coi trọng thời gian, nhưng loại thơ tứ thời bát tiết không nhiều, vì không nằm trong thi hứng Vũ Hoàng Chương. Bài thơ xuân Dịu Nhẹ hiếm hoi, nhưng vẫn mang phong cách đặc biệt Vũ Hoàng Chương. Dường như mãi đến 1952 ông mới có trọn vẹn một bài thơ Xuân khác, nhưng cỏ cây đã nhuốm màu Thiền. Bài Thoát Hình gồm 7 đoạn, một vần :
Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân
Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần
Muôn vạn tế bào đang huỷ thể
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần …
… Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi,
Chưa từng hoen ố vết trầm luân
Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở ái Ân
Sau này, nhất là từ 1963, Vũ Hoàng Chương sẽ sáng tác nhiều thơ về Đạo Pháp, tuy nhiên nguồn thơ Đạo đã róc rách từ trước đó. Ngoài ra, bài Thoát Hình còn mang thêm dấu ấn của khoa học và triết học, hai nguồn thi hứng sẽ phát triển sâu rộng hơn trong thơ Vũ Hoàng Chương về sau.
* * *
Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay …
là một câu tiên tri. Di cư vào Nam, nhà thơ xem như thất lạc mùa xuân.
Bài Nửa đêm Trừ Tịch làm 1955 ; mùa xuân đầu tiên xa xứ :
Mười năm qua, đến bây giờ
Nhìn nhau thấy cả giấc mơ thưở nào ..
(…)
Xuân về nhớ thưở ngát chiêm bao
Giòng nước trôi xuôi chợt nghẹn ngào
Lạc lõng vàng son màu lữ thứ
Cành mai gượng ánh mặt hoa đào
Mười phần xuân có gầy hao
Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa
Mấy phen biếc đón hồng đưa
Dẫu rằng xong, vẫn là chưa thoả nguyền
Đây là một bài thơ hay, giàu cảm xúc, chĩu nặng ưu hoài. Không mang nội dung, dụng tâm chính trị nào, nhưng đã bị Chế Lan Viên chiếu cố và mạt sát thậm tệ (1960) cho rằng ” cái điều Vũ Hoàng Chương đáng hổ thẹn nhất và chúng ta đau xót căm giận nhất là bốn câu này :
Có nghĩa gì đâu một chữ ” về “
Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê
Nếu không ngược cả mười năm ấy
Về tận kinh đô của ước thề
Theo Chế Lan Viên, chữ” Về ” là  ” cái việc về thành, cái việc dinh tê về Hà Nội (mà) chẳng có nghĩa gì cả, thì trong tâm hồn nhà thơ này không còn ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa và cái không có nghĩa “ 
Đây là lối viết vu oan giáng hoạ, vì chữ ” về “, trong bài thơ, không có ngụ ý chính trị, chỉ là một ước vọng tình cảm, hay xa hơn nữa là một xu hướng tâm linh. Từ xưa thơ Vũ Hoàng Chương đã là một lối tìm về :
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về
Nguyện Cầu, 1950
Còn mấy chữ ” có nghĩa gì đâu “, là phỏng theo Xuân Diệu :
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nếu nhất định gán cho câu thơ một dụng ý thời sự thì nên hiểu : việc hồi cư năm 1950, với Vũ Hoàng Chương không mang ý nghĩa một chọn lựa chính trị, mà chỉ do một nhu đầu một tình cảm riêng tư – phần nào đó hoang tưởng – ” có nghĩa gì đâu ” . Còn về thời gian mười năm, từ thời Mây (1943) thi nhân đã nhiều lần nói đến : ” Mười năm thôi nhé mộng tan tành ” … ,
 ” Tình mười năm còn lại mấy tờ thư “â?¦. Thận trọng, chúng tôi đã hỏi lại bà Vũ Hoàng Chương và được chị trả lời là đúng như thế, và còn cho biết thêm : â?ước thềâ?? ở đây không phải là chị ấy.
Ngoài ra, giai đoạn này, Vũ Hoàng Chương còn có Bài Ca Bình Bắc, kể chuyện xuân chiến thắng của Quang Trung :
Nhớ trận Đống Đa hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề máu nở hoa đào
Ngập giấc xuân tiêu hề lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề một khúc hát ngao
Bài thơ là một thiên sử thi, ngợi ca hào quang dân tộc, nhưng hay ở những âm vang vời vợi nao nao, vô cùng quan tái. Nó là một khúc ” hát ngao ” hơn là một anh hùng ca.
Cùng trong nỗi u hoài mùa-xuân-mất, tết năm 1963, nhà thơ mơ tưởng một Cành Mai Trắng Mộng

 
Chín giao thừa, tám năm dư
Cành Mai trắng mộng đêm trừ tịch suông
(…)
Khói đâu mờ tím căn buồng
Thời gian ai đốt trên luồng thần giao
Cố đô lửa cháy gan nào
Sài đô son sắt như bào, như nung
Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Xuân giọng hãi hùng cay đắng. Bài Đục Trong, làm theo lối cổ phong, toàn vần đục, khổ độc, gân guốc, gay gắt :
Chợ Tết mai lan cúc
Đắm mình trong bụi đục
Từng phiên nép mặt hoa
Thẹn không bằng khóm trúc
(…)
Liên miên khói lửa này,
Dám đâu mơ hạnh phúc
Lần lượt tre rồi măng
Đã tơi bời cốt nhục
Đoạn cuối, ê chề, xót xa thân phận :
Thân càng xót cho thân
Uổng gây hình ngọc đúc
Bài thơ có lẽ làm vào những ngày áp Tết Mậu Thân, sức khoẻ không tốt, cũng như bài Bặt Khoá Buồng Xuân, cùng một âm hao não nuột :
Miệng héo dần theo lòng khắc khoải
Năm nay rồi sắp thành năm ngoái
E khi chiều xế, tuyết thay tơ
Không cả chút tình thương nắng quái
Kẻ vô-hạn-hận không là gió
Xuân đến trà mi đời tự bỏ
Ngồi chín từng cao, thẳm đáy hang
Cùng ai gửi chút hương vò võ ?
Toàn bài vần bằng, xen hai đoạn vần trắc nói trên, là u uất nhất. Và kết thúc với hình ảnh của Tết Mậu Thân :

thiều quang ngập máu đổ quyên hồng…
Bài Vỡ Mộng Liêu Trai làm giữa ngày Tết tang thương :
Ma sợ cung vôi chạy vọt lên
Người thơ giữa lúc mở bầu men,
Khai xuân chưa kịp vui cùng khách
Đạn rót trời cao đã nổ rền
Nhưng Tết Mậu Thân 1968, tang tóc nhất là Cố đô Huế. Vũ Hoàng Chương làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên hoàn liên vận dưới đề tài : ” loạn trung Huế cảm bệnh trung nhân ” (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc) :
Lăng miếu gần kề lưng chó sói
Thịt xương phó mặc vuốt diều hâu
(…)
Đạn réo vang vang lửa bốn bề
Như thiêu giường bệnh cháy cơ mê
Sốt dâng mạch loạn càng u uất
Máu chảy ruồi bâu thật não nề
Trước cảnh trúc chẻ ngói tan ấy, nhà thơ đau yếu, bất lực chỉ gởi lời cầu nguyện :

 
Mong người một nước soi gương cũ
Nguyện đấng ngàn tay độ nhiễu điều …
(Huế Cảm)
Tết năm sau, Kỷ Dậu â? 1969, sức khoẻ khá hơn, tình hình chiến trận, bên ngoài, có vẻ yên ắng, hoà hội Paris đang tiến triển và hứa hẹn, Vũ Hoàng Chương chợt nghe hồn thơ phấn khởi :
Tin Xuân gà gáy rách trời đêm
Tuổi nửa trăm vừa nửa chục thêm
Đủ thấy điềm lành hai nửa nước
Một nhà trong ấm với ngoài êm
(Mở Bút ghi Điềm)
Thi nhân ngất ngưởng, lạc quan như chưa bao giờ lạc quan ở tuổi hoa niên :
Chữ lựa vần gieo đắc ý rồi
Đèn khêu vừa tỏ nước vừa sôi
Nhựa say trà ngát thơ cao giọng
Hỏi chúa xuân rằng : ai có ngôi ?
(Hạnh phúc nào hơn)
Vũ Hoàng Chương thi sĩ còn là một Vũ Hoàng Chương kẻ sĩ, tâm hồn luôn luồn gắn bó với vận hưng suy của đất nước â? cho dù ông có là nạn nhân của nhiều ngộ nhận và xuyên tạc. Mùa xuân Kỷ Dậu 1969 đưa hồn thơ về một năm Kỷ Dậu khác, 120 năm trước, mùa xuân Quang Trung, 1789, qua bài thơ chữ Hán :
Kỷ Dậu hồi thanh
Kê minh nhật thướng cựu sơn xuyên
Hồi ức Quang Trung vũ hịch truyền
Sơn vĩ sơn đầu hoa giải ngữ
Hoà âm xuân thảo nhiễu bình nguyên
Ông tự dịch :
Tiếng vang lịch sử
Đất xưa gà gáy mặt trời lên
Giục nhớ Quang Trung hịch sấm rền
Hoa mở cánh chào ngang dọc núi
Hoà âm cỏ ngát xuống bình nguyên
Đặng Tiến dịch ké :
Gà thúc bình minh sông núi xưa
Quang Trung thuở nọ, hịch truyền đưa
Sườn non lưng núi lời hoa mở
Nội cỏ hoà xuân, nhạc tấu mùa
Vũ Hoàng Chương sinh năm ất Mão-1915 â? giấy tờ thường ghi 1916 â? tính đến năm 1969 là 55 tuổi ta. Ông tự hào thọ hơn … Khổng Minh một tuổi, có bài thơ thu gọn đời mình, giữa những dư luận thị phi, và trầm luân thế cuộc :
Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long
Bến nằm dư biết đục hay trong
(…)
Chỉ thương kiếp đá ai bày trận
Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng
Nhưng phấn khởi, dường như chỉ được một mùa xuân ấy. Tết năm sau, 1970, bài ” Xúc Động Cuối Năm ” thật buồn :
Chơi xuân đất này không cỏ non
Thơ không vàng nữa, ấn không son
Hỡi ơi lòng chợt đau như cắt
Một nụ cười xuân cũng chẳng còn
Bài thơ tưởng niệm bạn tâm giao là thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) vừa mới quy tiên trong năm. Người sành thơ nhận ra bóng dáng Đông Hồ : câu đầu lấy từ một câu tập cổ của tác giả Bội Lan Hành : ” xuân du thử địa vô phương thảo “, câu sau lấy ý từ bài Vàng Son hoa nở hai mùa :
Mùa vàng hoa mai hoa cúc
Mùa son hoa phượng hoa vông
(…)
Mùa vàng giàu thật giàu
Mùa son sang rất sang
(Đông Hồ)
” Một nụ cười xuân cũng chẳng còn “, là nhắc tên tập thơ ” Cô Gái Xuân ” (1935) của Đông Hồ.
Xuân Tân Hợi â? 1971, lại thêm một mùa tang tóc :
Theo nắng trôi vàng, bạc nổi mây
Thương xuân lìa cội, Tết sa lầy
Sông Rồng bến Nghé đêm Trừ tịch
Phá vỡ vòng sao tự giải vây
Mách cho Lã Vọng về đây
Tha hồ câu, bến sông đầy tử thi
Tuý Ông ngồi rũ cánh Lan buồn
Nơi ấy đầy xương chất máu tuôn
Thà đợi một mùa Xuân Đích Thực
Âm thanh Cuồng sát tự dìm luôn
(Xuân Đối Diện)
Năm sau, 1972, khói lửa vẫn ngập trời : 
Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây
Tỉnh ra ngựa đấy với thuyền đây
Nhìn nhau chuột nhỏ tung tăng dạo
Vừa uống sông xuân một bụng đầy
(Nhâm Tý khai bút)
Tác giả tự dịch ra Hán Văn :
Trường chinh mộng hậu tức phong yên
Thiên lý long câu vạn lý thuyền
Hốt ngộ tiền thân nhất yến thử
ẩm hà mãn phúc tuý xuân thiên
Lời thơ thanh thoát, dí dỏm. Nhưng tâm sự tác giả, thời điểm ấy còn u ám lắm qua bài ” Xuân Quạnh ” :
Hỡi ơi trầm ngát mùa cung điện
Ngõ hẹp … Thôi rồi vẫn tịch liêu
Lầu Vọng-giai-nhân mãi quạnh nằm
Ngày xưa Kim ốc chỉ mười năm
Đắng cay thế vị lòng vương giả
Ôi nguyệt tiền thân ngọt đoá rằm
Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày đêm cuối năm. Phải nhớ rõ bối cảnh đó, mới hiểu tâm trạng Vũ Hoàng Chương qua bài ” Đón Xuân Mười Chín ” làm trước Tết Quý Sửu (nhằm ngày 3.2.1973) :
Bấm đốt từ di cư đến nay
Đón xuân vừa vặn hết bàn tay,
Sang sông Ngựa đã hai lần hí
Vạch đất Trâu thêm một luống cày
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Bút toan chạy ngược đau lòng chữ
Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây
Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác
Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say
Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi
Tết đến buồn không chịu vẽ mày
Xưa rồi lửa phóng tên bay
Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn
Bóng ai trên đá ngồi gan
Có nghe rung một giây đàn lẻ loi
Trời xuân chẳng én đưa thoi
Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua
Nghé kêu đầy bến vàng hoa
(dẫn trọn bài)

Bài này đăng trên Giai Phẩm Văn Xuân Quý Sửu, phát hành ngày 15.1.1973, trước khi ký hoà ước Paris. Vậy Vũ Hoàng Chương phải làm trước đó, vào thời điểm :
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Câu thơ ngụ ý : lửa thử vàng, Vàng Mười không sợ lửa, chế độ miền Bắc không khuất phục trước vũ lực thô bạo. Đây là một câu thơ nặng tình dân tộc, nhưng không mấy người để ý, như một thứ cung đàn lẻ loi. Ngược lại, người ta bới móc những câu thơ ” chống cộng ” để lên án và hạ ngục Vũ Hoàng Chương khi có cơ hội.
Người đọc vẫn tưởng nhà thơ sống trong mây khói, quên rằng Vũ Hoàng Chương gốc gác là một bộ óc khoa học, toán học, nên đã có những tính toán chi ly, chính xác : bàn tay, tổng cộng có 19 đốt, ứng vào con số 19 năm di cư sang sông (1954-1973). Ngựa đã hai lần hý là hai năm Giáp Ngọ (1954) và Bính Ngọ (1966). Trâu thêm một luống cày là hai năm Tân Sửu (1961) và Quý Sửu (1973). Hai vần mây và say nhắc tên hai tập thơ đầu tay ; Nửa đêm trừ tịch là tên một bài thơ. Nghé kêu đầy Bến ngụ ý bài thơ làm tại Sài Gòn, tên cũ là Bến Nghé.
Sau đó, hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương có thơ kịp thời ghi dấu :

Ma là Người … kiếp khác
Người là Trời … đêm nay
Nghe chừng lửa đã tắt
Hai bờ Con-Sông này
ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt
Sao lòng ai vẫn chưa hay ?
Nằm kia, người nín bặt
Vòng luân hồi đã ngược chiều quay
Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày
(Tin Xuân)
Vũ Hoàng Chương là người thiết tha với vận mệnh dân tộc và đất nước, gắn bó với kỷ niệm Hàng Khay Hàng Trống hoa nào rụng, nhất định phải kỳ vọng vào hiệp định 27.1.1973 sẽ mang lại thanh bình cho đất nước, và ngày thống nhất sẽ không xa. Dù rằng kỳ vọng ấy chỉ rung một giây đàn lẻ loi, và sau này sẽ không đúng với thực tế : đất nước sẽ thanh bình và thống nhất, nhưng trong những điều kiện khác â? mà Vũ Hoàng Chương sẽ là nạn nhân.
Năm 1974, Tết Giáp Dần, thi nhân có bài Thuý Vũ Đoản Từ, trích toàn văn, vì ít người còn lưu giữ :
Cỏ Bồ ôm đá ngủ
Trong tranh từ bao giờ
Cho đến bây giờ
Còn say trong thơ
Vườn bỗng hót vang chim Thuý Vũ
Đèn xanh nến biếc đêm giao thừa
Nét bút gầy theo mực úa
Bao năm rồi tiêu sơ
Có phải xuân đang từ đáy lụa
Một chiều sâu không ai ngờ
Truyền tin về giấc mơ
ánh nguyệt mung lung cành lãng đãng
Nghe lòng trời đất ươm tơ
Nguyệt vẽ mày cong dĩ vãng
Cành đơn hoa trắng tương tư
Ôi thôi áo vải đã màu nâu thuyền đã hư
Mối manh gì nữa còn ai nữa
Đành kết vào hương Thuý vũ từ
Tác giả giải thích : Thuý Vũ nguyên là tên một loài chim, sau thành tên một loài hoa : hoa mai trắng, nhiều cánh và nhỏ hơn Bạch Mai . Nói là thơ xuân, kỳ thực bài này nằm giữa mộng và thực. Nó quý ở chỗ phản ánh tâm trạng của tác giả thời đó, ông sẽ viết ” ta đành mất hết để còn nhau ” (Huyền Lan Trường Từ, cuối xuân Giáp Dần 1974).
* * *
Thơ xuân thơ Tết cuối cùng của Vũ Hoàng Chương là bài Vịnh Tranh Gà Lợn, làm vào ngày Tết Bính Thìn, 1976. Bài thơ được truyền tụng nhờ được truyền khẩu. Nhưng cũng vì truyền khẩu, nên nhiều dị bản khác nhau, nhiều bản sai lạc, vô nghĩa. Bà Vũ Hoàng Chương đã than phiền và ghi lại cho chúng tôi chính văn :
Vịnh tranh Gà Lợn
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh
Bà Vũ Hoàng Chương ghi chú : Thơ có hoạ có ba nghĩa : thơ có xướng thì phải có hoạ, gọi là thơ xướng hoạ : thơ phản nghịch là tai hoạ ; và thơ hoạ (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác : thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : ” dừng có mạch, vách có tai ” ; ” xanh vỏ đỏ lòng “. Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : ” tranh tối tranh sáng “, ” mắt xanh “, ” mắt quáng gà “, ” gà cùng một mẹ “, ” lợn âm dương “, ” con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi “. ” Khúc tân thanh ” ngụ ý ” đoạn trường ” . Còn ý nghĩa, ngụ ý dí dỏm nhưng thâm trầm của từng câu, từng chữ thì chúng tôi xin miễn giải thích, sợ làm mất cái duyên ngầm của bài thơ.
Chỉ mong văn giới ghi nhận : đây là văn bản chính thức của bài Vịnh tranh Gà Lợn của Vũ Hoàng Chương làm vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Bà Vũ Hoàng Chương và chúng tôi chịu trách nhiệm về 56 chữ trong văn bản. Những dị bản khác nên xem như là truyền khẩu, ” tam sao “, được phổ biến trong nghịch cảnh. Sau đó nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị bắt, giam ở ngục Chí Hoà, bị bệnh nặng, đưa về nhà mấy hôm thì mất, ngày 6.9.1976, nhằm ngày 13 tháng 8 năm Bình Thìn, lúc 23 giờ.
* * *
 

Tóm lại, ở thời trai trẻ Vũ Hoàng Chương ít có thơ Xuân trong các tập Thơ Say, Mây, Rừng Phong. Sau ngày di cư vào Nam, thơ xuân của ông thường là hoài niệm hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay. Khoảng mươi năm về sau, ông có nhiều thơ xuân mỗi năm vì yêu cầu của báo giới ; vả lại, ông thường dùng thể thơ ngắn, gọi là nhị thập bát tú, dễ sử dụng để ký hoạ một tâm trạng, một biến cố lịch sử. Do đó, những bài thơ hoàn cảnh lại là những bài thơ thời thế và thân thế giàu sử liệu và tư liệu.
Chúng tôi sưu tầm và giới thiệu thơ xuân của Vũ Hoàng Chương qua nhiều giai đoạn, để bạn đọc và văn giới có một chuỗi tư liệu. Nhưng nhất định là thiếu sót, nhất là những bài thơ đăng rải rác trên báo, hay rất nhiều thơ xuân thù tạc gửi bằng hữu. Quý vị nào biết xin vui lòng mách, hoặc công bố, để đóng góp vào việc hoàn thành Toàn Tập Thơ Văn Vũ Hoàng Chương sau này.
Dùng từ cho chính xác, có thể nói là Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Tết và ít thơ xuân. Và nói chung, thơ xuân Vũ Hoàng Chương, ở cái phần đọng lại trong lòng người đọc thường là :
Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay.
Người đời vẫn mơ ước những thành đạt làm nên sự nghiệp. Nhưng có những sự nghiệp lớn lao hình thành trên mất mát.
Cao quý và thiêng liêng thay, một sự nghiệp làm bằng mất mát.

Đặng Tiến
Paris, Tết dương lịch, 1/1/2001

 

Bướm Trắng Tháng Sáu 24, 2008

 

 

Bướm Trắng

Trần Hồng Châu


Sông xanh xanh, sông chở đầy ân ái

Trường hồng hồng trường mang mãi tình non

Quá gần nhau sao vẫn còn quan ải

Mấy mươi lớp phù kiều dáng mắt em

Chủ nhật đây nắn nót chữ thơ hồng

Lòng phơi phới hội mở gió như nhung

Ghé Thiên thai anh trao tình thứ nhất

Tay ghi dòng nhật ký buổi tương phùng

Áo trắng xưa bướm cũ còn vương vấn

Đêm thao thức hồn chĩu nặng buồn thơ

Mộng mơ anh say say mầu hồng phấn

Tóc huyền châu trong khung cửa trường bên

Bờ sông thơ gió vương tình bướm trắng

Em đi nhanh nón nhỏ gót hồng son

Bỗng hoa lá chập chờn trong vắng lặng

Hồn bâng khuâng rực rỡ ánh lưu ly

Bước ngập ngừng vân vi mi chớp nhẹ

Tình mang mang hò hẹn mái đò xưa

Mộng thanh xuân tuổi ngọc về đây nhé

Về đây nhé bướm trắng mộng thanh xuân.

 

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG Tháng Sáu 24, 2008

 

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
 
Phạm Đức Liên,Ph.D
Nguyên giảng sư Trường Đại Học Cộng Đồng Central Piedmont, North Carolina,Hoa Kỳ

“Mồng mười tháng ba,
Có đi giỗ tổ mới là người Nam”

I. Nguồn gốc những vị vua đầu tiên của Việt Nam:từ năm 2879 đến năm 258 trước tây lịch
Về nguồn gốc của những vị vua đầu tiên của Việt Nam, chúng ta chỉ có những truyện thần thoại hoang đuờng.Dù biết là mơ hồ,nhưng những câu truyện dó vẫn được kể từ người này qua người kia, và truyền khẩu từ đời này sang đời khác.

Nước Văn Lang
Đền thờ Quốc tổ tại Phú Thọ

Dù là biết không xác thực nhưng đó là nguồn gốc vô cùng thiêng liêng, ăn sâu vào tâm khảm mọi người, như nhắc nhở chúng ta cùng hướng về vùng núi đồi làng Cổ tích, tỉnh Phú Thọ ( hiện nay còn nhiều dấu tích).
Tục truyền rằng vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú ở phương Nam ( tỉnh Hồ Nam,Trung Hoa),lấy một nàng tiên và đẻ ra con trai tên là Lộc Tục. Đế Minh truyền lại cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua ở phương bắc và phong Lộc Tục làm vua ở phương Nam ( Kinh Dương vương, năm 2899 trước Thiên chúa ). Kinh dương vương đặt quốc hiệu là Xích quỷ và lãnh thổ: phía bắc gíáp Động Đình hồ ( Hồ Nam ) , phía nam giáp nước Chiêm Thành, phía đông là biển Nam hải,và phía tây giáp Ba Thục ( Tứ Xuyên). Có sách chép lãnh thổ của nước ta bao gồm hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ( Trung Hoa) và một phần nước Ai Lao.
< Kinh Dương vương lấy con gái Động Đình quân là Long nữ, sanh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long quân. Lạc Long quân lấy con gái vua Đế Lai là Âu Cơ, đẻ ra một trăm trứng và nở thành một trăm con trai: khỏe mạnh,đẹp đẽ và thông minh phi thường. Một hôm Lạc Long quân mới nói với bà Âu Cơ:” Ta là giống rồng, mình là dòng Tiên, e rằng thủy hỏa xung khắc, nên phải chia ly.Ta đem 50 con xuống biển Nam Hải, nàng mang 50 con lên núi. Khi hiểm nghèo thì báo cho nhau biết,và nhớ: đừng quên nhau.” Bà Âu Cơ đem 50 trai lên đất Phong Châu ( tỉnh Vĩnh Yên ) và tôn người con trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng vương(hay Lạc vương),đặt tên nước là Văn Lang. Chúng ta là” con Rồng cháu Tiên” là do truyền thuyết này.

Ven bờ Hồng hà,PhúThọ
Trẩy hội ĐềnHùng,MạnhQuỳnh 1942

Hùng vương làm vua ( cha truyền con nối) được 18 đời. Nếu tính từ Kinh Dương vương ( năm nhâm tuất 2879 trước Thiên Chúa ) cả thảy 2621 năm. Các vua Hùng vương ( họ Hồng bàng ) là thủy tổ của dân tộc Việt Nam, có công gây dựng nên nước ta, với những nền móng căn bản của xã hội Việt Nam thời xưa rất tôn ti trật tự. Hùng vương đóng đô ở Phong Châu ( Bạch Hạc, Vĩnh Yên), quan văn gọi là Lạc hầu, quan võ đặt là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua đặt là Mị nươngvà các quan nhỏ gọi là Bồ chính , dân chúng đặt là Lạc dân. Nước Văn Lang được chia ra 15 bộ hay quận. Sau đây là tên 18 vị Lạc vương đời Hồng Bàng:
Kinh Dương vương ( Lộc Tục,từ năm 2879 trước Tây lịch)
Hùng Hiền vương ( Sùng Lãm, Lạc Long quân)
Hùng quốc vương ( có Chữ Đồng Tử )
Hùng Hoa vương ( Sự tích trầu cau )
Hùng Hy vương
Hùng Huy vương ( tục bánh dày, bánh chưng và truyện Phù Đổng Thiên vương )
Hùng Chiêu vương
Hùng Vi vương
Hùng Định vương
Hùng Uy vương
Hùng Trịnh vương
Hùng Vũ vương
Hùng Việt vương
Hùng Anh vương
Hùng Triệu vương
Hùng Tạo vương
Hùng Nghị vương
Hùng Truyền vương : với truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh,và năm 258 trước Thiên Chúa, họ Hồng Bàng bị nhà Thục ( một họ ở cạnh nước Văn Lang ) chiếm mất nước. Hùng vương thua chạy, nhảy xuống giếng tự tử.
 


Cổng tam quan ĐềnThượng,ảnh Trần Cao Lĩnh)

Lăng các vua Hùng núi Nghĩa Cương,tranh Mạnh Quỳnh 1942)

II.Đền Hùng : vùng đồi núi hùng vĩ, nghiêm trang làng Cổ Tích, Phú Thọ ( cách Hà Nội 100km)
Với 4878 năm lập quốc ( từ 2879 trước tây lịch đến ngày nay 1999 ), như thế là gấn năm ngàn năm văn hiến- cho dẫu mơ hồ, huyền hoặc về nguồn gốc của tổ tiên- chúng ta đều có một kết luận chung làm : Kinh Dương vương đã lập nước ở lưu vực sông Dương Tử, nơi đó có hàng trăm bộ tộc được gọi là Bách Việt sinh sống. Lạc Việt của quốc tổ Hùng vương là bộ tộc hùng mạnh nhất đã tồn tại, tiến về phía nam và định cư ở châu thổ sông Hồng hà, sông Mã, lập ra nước Văn Lang .
Và giờ đây là di tích những buổi bình minh của lịch sử ” Con Rồng Cháu Tiên”. Chúng ta đi tìm vết tích của họ Hồng Bàng : Đền Hùng, nơi thờ 18 vua Hùng vương.
Đền Hùng được vua Thục Phán ( tức vua An Dương Vương, từ năm 257 đến năm 207 trước TC ) xây năm 208 trước Tây lịch ,tại ngọn núi cao nhất Phú Thọ : núi Nghĩa Cương,hay Nghĩa Lĩnh hay Hùng Sơn hay núi Đền ( thuộc làng Cổ Tích hay Hy Cương, phủ Lâm Thao; nơi đây, thời các vua Hùng vương gọi là bộ Phong Châu). Núi đồi làng Cổ Tích là một vùng cây cỏ xanh tươi với dáng dấp nhấp nhô, lượn khúc theo các dòng sông của thế đất vùng trung du Bắc phần. Đặc biệt từ đỉnh Hùng Sơn , nhìn những mô đất , những gò đá như là những mâm xôi mà thiên nhiên đã dành cho dân Lạc Việt-dâng lên quốc tổ. Xa xa là núi Tam Đảo ( Vĩnh Yên ) và núi Tản Viên ( Sơn Tây ). Từ chân núi lên đỉnh núi Nghĩa Cương có ba đền là :

Đền Hạ, ở ngay chân núi, thờ hai công chúa : Tiên Dung Mỵ Nương và Ngọc Hoa Mị Nương là con gái vua Hùng Vương thứ 18.
Đền Hạ còn đưọc gọi là Đền Giếng vì có giếng nước trong suốt, mà dân chúng tin rằng uống vào như uống nước thiêng của Lạc Vương.

Đền Trung ở lưng chừng núi, thờ các danh nhân thời Hồng Bàng: Chữ Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương và các Lạc hầu, Lạc Tướngv. v…Trước đền có nhiều tâm bia đá ghi công đức của 18 vua Hùng Vương, các nét chữ đã mòn gần hết nên không đọc được nữa.

Đền Thượng, trên đỉnh núi. Muốn lên đền Thượng, những người hành hương phải leo 296 bậc gạch. Đền Thượng gồm có sáu gian ngoài, gọi là” Đại Bái” để tế lễ và ba gian trong, gọi là ” Hậu cung ” để thờ các vua Hùng với dòng chữ “Đột ngột cao sơn cổ Việt Hùng thị thập bát thánh vương vị” ( có nghĩa là Núi cao chót vót nước Cổ Việt họ Hùng mười tám vị thánh vương ). Đặc biệt trong đền Thượng có hai cây mác mũi nhọn làm bằng sừng hươu. Trên bàn thờ có tượng ( đắp bằng đất, bên ngoài quét sơn ) vua Hùng Vương và Hoàng Hậu, Công chúa. Ngày kị của vua Hùng Vương là là ngày 10 tháng ba âm lịch, kị Hoàng Hậu vào ngày 15 tháng 5 và kị Công chúa là ngày 12 tháng giêng.

Bên ngoài đền Thượng là lăng các vua Hùng, có bia đá khắc chữ : Quốc tổ Hùng Vương lăng. Bên cạnh là những bia đá khắc văn thơ đề vịnh của các danh nhân.

 

Đền thờ Hùng vương tại Thảo Cầm Viên, Sàigon, ảnh Trần Cao Lĩnh


Dưới đây là thơ ” Vịnh Đền Hùng ” của Lương Hồ Nguyễn Trung Khuyến:

 
Nước thẳm sông Thao, núi Tản xa,
Văn Lang muôn thủa nước non nhà.
Miếu lăng nền cũ hương còn đậm,
Mưa nắng bia xưa nét chửa nhòa.
Đất bốn nghìn năm công đức tổ,
Người hai mươi triệu giống nòi ta.
Này nơi nguồn gốc chung nhau đó,
Nhớ lấy ai ơi kẻo nữa mà …

Năm nay ,giỗ tổ Hùng vương nhằm vào ngày chủ nhật 25 tháng tư năm 1999 ( tức ngày 10 tháng ba năm kỷ mão ).
Phạm Đức Liên

Tài Liệu Tham Khảo:

Indochine, Hebdomadaire ilustrée, 1942
K.A..Appiah and H.L.Gates, The Dictionary of Global Culture, 1997.
Bernard Grun, The TimeTables of History, 1991.
J.M.Roberta, A Short Story of The World ,1993.
Karnow Stanley, A History -The first complete account of Vietnam at war, 1983.
Cơ sở Đông Tiến, Nước Tôi Dân Tôi.
Đỗ Trọng Huề,Đi Tìm Dấu Vết Hùng Vương.
Hà Mai Phương, Lược Sử Văn Minh Việt Nam.
Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam và tranh mộc bản Việt Nam.
Phạm Cao Dương, Lịch Sủ Dân Tộc Việt Nam thời lập quốc )
Phạm Đức Liên,Bình Minh Lịch Sử Việt Nam (và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí Việt Mỹ) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược.

 

Tin Tức Tháng Sáu 24, 2008

Tin Tức

I. VIÊT NAM
Kể tù tháng 12-1998, Việt Nam xiết chặt việc kiểm soát mạng lưới Internet vì họ sợ dân chúng trong nước đọc được các web page Việt Nam hải ngoại và quốc tế, cùng liên lạc với bên ngoài bằng E Mail.

Cầu bắc qua sông Gianh do Pháp viện trợ sức người, sức của,do công ty quốc doanh Thăng Long xây cất với kinh phí 240 tỷ, đã được khởi công từ tháng 5-95 và được khánh thành hôm 26-11-98, nhưng đã có 3 vết nứt dài từ 1 đến 2 mét, rộng 1,5 mm. Ở Việt Nam ta có hai con sông lớn nhất mà từ trước đến nay chưa bắc cầu là sông Gianh và sông Mekong. Nay Úc đã xây cầu qua Bắc Mỹ Thuận, và Pháp viện trợ xây cầu qua phà sông Gianh. Vẫn là tập đoàn tham nhũng cộng sản ăn chận tiền bạc, xi măng, sắt thép…cho nên cầu vừa xây đã rạn nứt.

Thủ tướng Phan Văn Khải tuyên bố nhân dịp cuối năm tổng Bí thư Lê Khả Phiêu sang chầu Trung quốc rằng Việt Nam không thể đổi mới chính trị vì làm như thế, chế độ cộng sản sẽ bị sụp đổ.

Trần Độ đã viết xong ngày23-9-98, một bút ký có nhan đề” Một Cái Nhìn Trở Lại”.Ông chia cuộc đời ông làm 4 giai đoạn:

Thời học sinh,ông ước mơ một cuộc sống lý tưởng.
Thời kháng chiến chống Pháp : đi bộ đội, lập nhiều chiến công.
Sau 1975, 18 năm làm lớn ( lý thuyết gia cộng sản, Phó thủ tướng) nhưng thấy đất nước vẫn nghèo khổ như xưa.
Thời hưu trí: đi khắp nước,thấy nhiều cảnh gian tham,đàn áp,bóc lột chẳng khác thời Pháp thuộc.
Ông đưa ra những nhận định sau về đảng và nhà nước:
Bộ máy đảng và nhà nước quá cồng kềnh: quá nhiều bộ viện và cơ quan.
Bộ máy công an to lớn quá.
Hệ tư tưởng thống trị tất cả.
Quá chênh lệch giữa giàu và nghèo.
Kết luận, ông có bài thơ:
“Những mơ xóa ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời.
Ác xóa đi thay bằng cực thiện,
Tháng ngày biến hóa ác luân hồi”
Vẫn tin về Trần Độ.Chiều ngày 4 tháng 1-1999,chi bộ vụ Văn Hóa Giáo Dục thuộc Văn Phòng quốc hội cộng sản Việt Nam đã họp và đi đến quyết định khai trừ Trần Độ ra khỏi đảng cộng sản Việt Nam. Trong bức thư ngõ, ông viết:”Tôi đã là đảng viên 58 năm(48-98).Tôi không ở trong đảng nhưng tôi còn là một người dân,tôi vẫn giữ nguyên ý kiến của tôi.Ông nói ông không ngạc nhiên vì đảng khai trừ ông, nhưng ông ngạc nhiên vì những giấc mơ ban đâu lại biến thành hiện thực chua chát. Ông cho rằng trước sau đảng cũng phải đổi,nếu không đổi thì chết.”

Sau khi đảng khai trừ Trần Độ, một số sĩ quan và đảng viên cao cấp đã lên tiếng ủng hộ Trần Độ như là đại tá Phạm Quốc Dương,chủ nhiệm Tạp chí Lịch sử Quân Đội, Hoàng Hữu Nhân, bí thư thành ủy Hải Phòng..
Ngày 18 tháng 1-1999,khoảng 2000 đồng bào Nam Cali đã tụ tập tại Little Saigon, gần đường Bolsa để phản đối một chủ tiệm cho thuê băng vidéo đã treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh.

II .THẾ GIỚI
Ngày thứ bảy 19 -12-98, Hạ viện Hoa kỳ đã họp để bỏ phiếu cho việc truất phế tổng thống Clinton. Trước đây, tổng thống Andrew Johnson đã bị luận tội khiến ông bị mất chức vào năm 1968.
Tháng giêng năm 1999, thượng viện sẽ họp và quyết định việc này. Nếu 2/3 nghị sĩ tán thành bản cáo trạng của Hạ Viện, tổng thống Clinton sẽ phải ra đi. Nhưng ông tuyên bố là không từ chức.

Chiều 19 tháng 12-1998, trong lúc đang bị Hạviện luận tội,tổng thống Clinton hạ lệnh tấn công Iraq. Đây là cuộc chiến tranh đơn phương vì Iraq im lặng. Liên tiếp 4 đêm máy bay B52 cũng như các pháo hạm đã liên tiếp tấn công dữ dội với các hỏa tiễn Tomahawk. Mỗi hỏa tiễn này giá khoảng một triệu mỹ kim ,và trong bốn ngày, Mỹ đã phóng đi khoảng 400 hỏa tiễn loại này. Chỉ có Canada,Anh quốc ủng hộ quyết định của Hoa Kỳ.
Cuộc tấn công này có ich lợi gì cho Mỹ và thế giới? Tổng thống Mỹ bảo là để cứu nhân loại khỏi bị bom vi trùng,bom hơi độc do Iraq chế tạo.

Nhưng chỉ tấn công trong 4 ngày thì có triệt hạ được các cơ sở và mưu toan của Iraq chế tạo vũ khí hóa học không?

Thực tâm Hoa kỳ muốn giải quyết tận gốc ngọn vụ vũ khí hóa học, hay chỉ là một cái cớ để cứu vãn uy tín Clinton trong lúc bị Hạ viện bỏ phiếu truất phế?

Chính nước Mỹ đã không ưa chế độ quân chủ của Iran và Iraq, đã ủng hộ các lực lượng dân chủ tại Trung Đông .Chính Mỹ cũng đã đưa Saddam Hussein lên ngôi vị ngày nay.
Có lẽ Hoa kỳ nên xem lại chính sách đối ngoại của mình.

 

CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO ” TRÍ THỨC MỚI “ Tháng Sáu 24, 2008

 

CHÍNH  SÁCH  ĐÀO  TẠO ” TRÍ  THỨC  MỚI “

CỦA  ĐẢNG  CỘNG  SẢN  VIỆT  NAM

Lê  Tùng  Minh

 

          Từ sau năm 1954, khi nắm được chủ quyền trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam (lúc ấy mang tên “đảng Lao Động Việt Nam”) đã quan tâm đào tạo một đội ngũ “Trí Thức Mới” để phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, vì như Lênin đã dạy cho những lãnh tụ cộng sản rằng : “Không có trí thức cộng sản thì không thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản !”.

 

          Do đó, từ 1956, dù ngân sách Nhà Nước còn rất thiếu thốn, trông cậy vào sự viện trợ của các nước anh em xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc, đảng Cộng Sản Việt Nam cho mở cấp tốc một số trường đại học như : Đại Học Tổng Hợp, Đại Học Sư Phạm, Đại Học Kinh Tế, Đại Học Y Dược Khoa và Đại Học Nông Lâm. Về hình thức, hệ thống đại học miền Bắc có vẻ rầm rộ bởi sự phô trương và tuyên truyền, nhất thời đã lôi cuốn nhiều nhà  “trí thức cũ” tham gia đào tạo đội ngũ “trí thức mới” ( như các giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Huy Thông, Trương Tửu, Phan Khôi, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Hoán, Đặng Văn Chung v.v…).

Buổi đầu, do tập trung lo giải quyết nhiều vấn đề chính trị, kinh tế quan trọng hơn, nên Bộ Chính Trị Trung Ương đảng Cộng Sản Việt Nam giao khoáng công tác giáo dục đại học cho Đảng Đoàn Bộ Giáo Dục lo, cụ thể là giao cho Nguyễn Khánh Toàn và sau đó là Võ Thuần Nho (em ruột của Võ Nguyên Giáp), Bí Thư Đảng Đoàn kiêm Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục (lúc này chưa thành lập Bộ Đại Học). Võ Thuần Nho chịu trách nhiệm trước Trung Ương Đảng về mọi vấn đề của ngành giáo dục, trực tiếp chịu sự chỉ đạo của Lê Đức Thọ (Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng).

 

          Nhưng sau vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” và “Đất Mới”, Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trường Chinh và Lê Đức Thọ, quyết định siết chặt công tác tổ chức và tư tưởng đối với ngành đại học, thực hiện một CHÍNH SÁCH GIAI CẤP TRONG VIC ĐÀO TẠO “TRÍ THỨC MỚI”.

 

          Chính sách ác nghiệt, phản sự tiến hóa của tiến trình sinh hoạt cộng đồng và nhân bản của dân tộc, được thể hiện cụ thể ở mấy điểm sau đây :

 

          1.-  CHỌN LỰA ĐỘI NGŨ THẦY GIÁO ĐẠI HỌC.

 

          Nguyên tắc căn bản để chọn lựa đội ngũ Thầy giáo Đại Học, do Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đề ra là :  ” Lý Lịch Phải Trong Sạch; Tuyệt Đối Trung Thành với Đảng”. Do đó, các giáo sư có dính líu đến các vụ án chống Đảng  hồi năm 1956-1957 đều bị đuổi khỏi trường đại học, cho đi lao động cải tạo (như các giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Phan Khôi). Giáo sư Trần Văn Giàu, đảng viên cao cấp, nhưng vì “tiêu cực đấu tranh” nên cũng không được tiếp tục dạy ở đại học (mãi đến sau năm 1975, ông Giàu mới được phép diễn thuyết ở các trường đại học).

 

          Bất cứ nhà giáo dục nào cũng hiểu rõ : Đại Học là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, vì thế NHÂN TỐ QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU LÀ ĐỘI NGŨ THẦY GIÁO (giáo sư, phó giáo sư, giảng viên và cán bộ hướng dẫn). Có đội ngũ thầy giáo giỏi mới đào tạo được một lớp học trò giỏi, là một chân lý phổ biến, không thể phủ nhận !

 

          Vậy mà thực trạng thầy giáo đại học từ sau 1959-1960 của ngành đại học miền Bắc Việt Nam đã được TUYỂN LỰA THEO TIÊU CHUẨN  “HỒNG”  HƠN  “CHUYÊN”.

“Hồng” là “đỏ về mặt tư tưởng”, nghĩa là phải tuyệt đối trung thành với Đảng, dạy đúng theo lời của Đảng. Những người mà Đảng coi là “hồng” bao gồm các thành phần : Đảng viên, Đoàn viên xuất thân từ giai cấp cơ bản (công nhân, bần cố nông, dân nghèo thành thị). Những người thầy nầy, dù không có bằng cấp cao, dù học lực trung bình, cũng được Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng phong cho chức “giáo sư” hay “phó giáo sư” để có “học vị” lên đứng trên bục giảng đường. Tỷ lệ những người thầy đại học này chiếm đến 80% tổng số cán bộ giảng dạy đại học của miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1960-1975.

Bởi thế, giáo sư Tạ Quang Bửu khi còn làm Bộ Trưởng Đại Học (1961-1968) có nói một câu khá hài hước : ” Đại HỌC CỦA CHÚNG TA CHỈ LÀ PHỔ THÔNG CẤP 4 “. Còn giáo sư Trần Văn Giàu thì kết luận thẳng rằng : ” NẾU ANH KHÔNG CÓ BẰNG TIẾN SĨ, KHI TỔ CHC MUỐN ANH LÀM GIÁO SƯ MẶC NHIÊN ANH LÀ TIẾN SĨ ( ! ). NẾU ANH CÓ BẰNG CẤP TIẾN SĨ , MÀ TỔ CHỨC MUỐN ANH LÀM THẰNG CHĂN BÒ, ANH PHẢI LÀ THẰNG CHĂN BÒ ( ! ) “.

 

 

          Phương thức tuyển lựa đội ngũ thầy giáo đại học của miền Bắc Việt Nam có hai cách : Tuyển lựa những người được đào tạo trong nước, và tuyển lựa những người được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc).

 

     *  NHNG THẦY GIÁO ĐẠI HỌC ĐƯỢC TUYỂN LỰA  TRONG NƯỚC.

 

          Trong giai đoạn lịch sử này (1960-1975) không có ai có bằng cấp Tiến Sĩ cả, mà chỉ có những người đã học xong CHƯƠNG TRÌNH 10+3 ( tức là 10 năm ở cấp phổ thông từ tiểu học đến trung học, học thêm 3 năm ở đại học ) hoặc CHƯƠNG TRÌNH 10+4  ( sau khi tốt nghiệp phổ thông học thêm 4 năm đại học ). Trung thực mà nói, trong đội ngũ thầy giáo đại học (sau khi tốt nghiệp đại học được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy) được tuyển lựa ở diện này cũng có một số người giỏi (có thể chiếm tỷ lệ 5%) và về sau đã nổi tiếng là nhờ sự tự học của họ như Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn.

 

     *  NHNG THẦY GIÁO ĐẠI HỌC ĐƯỢC TUYỂN CHỌN TRONG SỐ ĐI HỌC Ở CÁC NƯỚC

         XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

 

          Phần đông trong số họ được đào tạo qua trường bổ túc công nông (có trình độ lớp 2 hay lớp 3 vào học 3 năm, 4 tháng lên một lớp thì đậu bằng tương đương lớp 10), rồi học một năm ngoại ngữ của nước mà họ được đi du học (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc). Sau 4 hay 5 năm học ở nước ngoài, đậu bằng kỹ sư, cử nhân hay phó tiến sĩ. Bất cứ học sinh công nông nào được cử đi du học ở các nước xã hội chủ nghĩa, dù học giỏi hay dở, đến thời hạn vẫn được cấp bằng (theo chính sách “chiếu cố Việt Nam” của phe quốc tế cộng sản). Có thể khẳng định tỷ lệ giỏi cũng không quá 5%. Trường hợp phó tiến sĩ sinh vật học Phan Văn Khải, đương kim thủ tướng của Cộng Sản Việt Nam cũng xuất thân từ đội ngũ công nông du học này.

                                                                    *

                                                                 *     *

 

          Một số thầy giáo đại học sau này được Nhà Nước Cộng Sản phong giáo sư và đã nổi tiếng là giỏi như giáo sư sử học Phan Huy Lê (em ruột của bác sĩ Phan Huy Quát, nguyên chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng Việt Nam, đã chết trong nhà tù của Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975); giáo sư toán học Phan Đình Diệu; giáo sư ngôn ngữ Nguyễn Tài Cẩn v..v… tuy không thuộc thành phần cơ bản, nhưng họ không có biểu lộ “mất lập trường chính trị” và nhất là không có hành động chống đối, làm tốt công tác giảng dạy, đào tạo theo chính sách của Đảng (ít nhất là trước 1990). Nói cách khác, dù là người có tài, đỗ đạt cao, nhưng không thuộc thành phần cơ bản, nếu có được giảng dạy ở đại học thì cũng là loại giảng viên thường, không được giữ những chức vụ như Chủ Nhiệm Khoa hay Trưởng Bộ Môn, thậm chí không được giữ cả chức Chủ Nhiệm Lớp.

 

          Sau năm 1975, khi đảng Cộng Sản Việt Nam dùng võ lực cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, và đặt cả nước vào chung một chế độ chính trị “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, do việc “mua chuộc” một số trí thức khoa bảng của chế độ Việt Nam Cọng Hòa

nên về HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG THẦY GIÁO ĐẠI HỌC CÓ THAT ĐỔI; NHƯNG VỀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CỦA CHÍNH SÁCH VN KHÔNG HỀ THAY ĐỔI ! Chính vì lẽ đó mà nhiều giáo sư của chế độ cũ dần dần từ bỏ chế độ mới, vượt biên bỏ nước ra đi, mang đầy sự hận tủi của người trí thức lưu vong !

 

          Để cho bộ mặt đại học khỏi phải mang tiếng là “Phổ thông cấp 4″, và cũng để “sánh ngang” với nền đại học nước người, Nhà nước Cộng Sản Việt Nam liền cho phong hàm, cấp vị một cách “khoáng đại”. Hàng loạt Phó Tiến Sĩ, Tiến Sĩ, Giáo Sư, Phó Giáo Sư ra đời không theo qui chế nào của đại học quốc tế (!?). Theo sự đánh giá của các chuyên gia đại học quốc tế thì nhiều lắm chỉ có 5% trong số được phong hàm, học vị đại học của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam (sau năm 1975) là đạt tiêu chuẩn (!?). Số lượng thầy giáo tăng lên một cách đột ngột, mà nếu xét về hiện tượng chưa chắc có một quốc gia nào, dù là hiện tại như Pháp, Anh, Mỹ, so sánh bằng: Theo thống kê chính thức của Bộ Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp (của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam) tỷ lệ trung bình của thầy giáo Đại Học so với sinh viên toàn quốc là 1/6. Còn tại một số đại học lớn ở Hà Nội là 1/2.5; đặc biệt có một vài đại học là 1/1 (số liệu thống kê năm 1993).

 

          2.-  PHƯƠNG THỨC THI TUYỂN SINH VIÊN.

 

          Theo các thông tri tuyển sinh vào đại học của Bộ Giáo Dục (trước năm 1966) và Bộ Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp (sau năm 1961) cho đăng công khai trên các báo của Nhà Nước thì “không phân biệt thành phần giai cấp và tín ngưỡng, miễn em nào có bằng lớp 10 (phổ thông hoặc bổ túc công nông) đều được quyền dự thi tuyển vào trường đại học nào mà các em thích; đồng thời nếu đạt đủ điểm qui định thì không có lý do nào không được nhận vào trường đại học”.

Nhưng sự thật thì không hoàn toàn đúng như lời bố cáo trong các bản thông tri tuyển sinh hằng năm của Bộ Giáo Dục (hay Bộ Đại Học…..).

 

          Thực tế, có sự phân biệt đối xử theo một chính sách rất khắc nghiệt đối với các em học sinh không thuộc thành phần cơ bản (công nhân, bần cố nông, lớp nghèo thành thị ) như là :

 

          *  Kiên quyết loại bỏ các em học sinh thuộc các thành phần địa chủ, tư sản… và càng kiên quyết loại trừ các em thuộc thành phần làm việc cho chế độ cũ ( làm cho Pháp trước năm 1954 và làm cho Việt Nam Cọng Hòa hoặc làm cho Mỹ sau 1955 ). Nếu có trường hợp em nào quá giỏi, có dư luận đông đảo của quần chúng biết đến, thì cho vào học các trường trung cấp chuyên nghiệp (nhưng rất hạn hữu). Chính sách giai cấp này đã mang lại một hậu quả rất nghiêm trọng : Không những đã kềm hãm và giết chết tài năng của tuổi trẻ, làm tổn hại đến nhân tài của đất nước trong tương lai; mà còn tạo ra một thảm cảnh làm tan nát cuộc đời của một số em, vì thất vọng buồn chán….. rồi gia nhập vào đội quân “xã hội đen” (!).

 

          *  Ưu tiên tối đa cho các em thuộc thành phần cơ bản, đặc biệt là con em của cán bộ trung cao cấp đảng, con em của các đảng viên đang nắm quyền thế ở địa phương, từ  Xã, Huyện, Tỉnh đến Trung Ương. Do đó, có những em rất kém cũng thi vào đại học. Theo dư luận xã hội : Đó là thi “đậu lý lịch” (!). Chính sách ưu tiên cho giai cấp cầm quyền này đã tạo một hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho tương lai của dân tộc; bởi vì chỉ đào tạo một tầng lớp trí thức không đủ tiêu chuẩn về mặt kiến thức, và thiếu cả phẩm hạnh của trí thức là tự tin, dựa vào sức mình là chính ! Chính một số trí thức mới được đào tạo trong cái lò này đã và đang trở thành những “ông quan cách mạng” chỉ biết vâng, dạ, xu nịnh, mánh mung làm thiệt hại lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước !

          Thực tế, tưởng rằng đã được thay đổi tận gốc từ lâu sau khi đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố đổi mới tư duy, mở cửa về kinh tế, cải cách về giáo dục (từ sau 1990). Nhưng thực chất vấn đề “chủ nghĩa giai cấp”, vẫn còn nguyên, dù rằng báo chí của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam có tuyên truyền rầm rộ cho sự thay đổi này (!). Chính sách giai cấp, chủ nghĩa thành phần (hay chủ nghĩa lý lịch) vẫn còn thống trị trong đầu óc các cán bộ tổ chức có trách nhiệm duyệt xét tuyển sinh. Vì lý do đó, đã nãy sinh tâm lý phổ biến đối với các em học sinh học giỏi, nhưng không thuộc thành phần cơ bản, muốn bỏ nước ra đi ngày càng nhiều. Họ có hoài bảo sẽ đỗ đạt cao ở nước ngoài. Đó là một nguyện vọng chính đáng, nhưng là một hiện tượng đáng buồn cho sự nghiệp đào tạo trí thức tại nước nhà cho dân tộc ! Khốn khổ thay ! Không phải em học sinh nào vượt biên, bỏ nước ra đi, đều đến bến bờ vinh quang ! Tất cả đều bắt nguồn từ một chính sách sai lầm tả khuynh của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà đến nay họ mới nhìn thấy trên khía cạnh lý thuyết. Nhưng họ vẫn kiên quyết bảo vệ chính sách độc quyền giai cấp ấy !

 

          3.-  SỰ THỐNG TRỊ CỦA MÔN “CHỦ NGHĨA MARX – LÊNIN” VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ.

 

 

           Như trên đã trình bày : Trong chính sách đào tạo “trí thức mới” (hay trí thức xã hội chủ nghĩa) của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì, coi trọng  “HỒNG” hơn “CHUYÊN”.

 

          Muốn tô “hồng” tư tưởng, tình cảm và lập trường của sinh viên chỉ có cách là nhồi nhét thật nhiều, thật sâu môn học “chủ nghĩa Marx-Lênin” cho sinh viên; đồng thời bắt buộc sinh viên phải nhận thức được rằng môn “chủ nghĩa Marx – Lênin” là môn học quan trọng hàng đầu ở đại học, là một môn học có vai trò quyết định cả tương lai thăng tiến của mỗi sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học (!).

 

          Vì vậy, trong chương trình giảng dạy ở các trường đại học xã hội chủ nghĩa Việt Nam, môn chủ nghĩa Marx – Lênin coi như là môn bắt buộc phải đạt điểm theo quy định.

 

          Môn học chủ nghĩa Marx – Lênin bao gồm những bài học về :

 

     a)  Triết học Marx-Lênin (Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử).

     b)  Kinh tế chính trị học Marx-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học (cụ thể là học về chính sách của các đảng cộng sản, đặc biệt là chính sách của đảng Cộng Sản Liên Xô,                                         

Trung Quốc và Việt Nam). Nội dung giảng dạy môn này cho sinh viên ở các trường đại học chuyên nghiệp (Bách khoa,Y Dược, Nông Lâm, Kiến trúc, Thủy lợi v..v…) nhẹ hơn sinh viên các trường Khoa học Xã hội (Kinh tế, Luật, Sử, Văn….). Tuy nhiên, nói chung môn chủ nghĩa Marx-Lênin dạy ở các trường đại học không nhằm đào tạo những “cán bộ lý luận” Marx-Lênin (như trường Đảng Nguyễn Ái Quốc hay trường Đại Học Chính Trị), mà chủ yếu là rèn luyện lập trường chính trị, lập trường “tin tưởng tuyệt đối” vào sức mạnh vạn năng của chủ nghĩa Marx-Lênin, của Đảng Cộng Sản (!).

 

          Vì mục đích và yêu cầu của môn chủ nghĩa Marx-Lênin ở các trường đại học như vậy, nên điều quan trọng nhất là “cưỡng bức tư tưởng” hơn là tiếp thu một môn khoa học xã hội. Do đó, các thầy giáo dạy chủ nghĩa Marx-Lênin ở các trường đại học cũng có những tiêu chuẩn khác. Trước tiên, họ phải là đảng viên đã được trui rèn trong quá trình thử thách sự trung thành đối với Đảng. Sau đó, họ được đào tạo qua một lớp học chủ nghĩa Marx-Lênin (ngắn hạn là 1 năm, dài hạn là 2-3 năm)  và có khả năng giảng dạy (hay truyền đạt đúng như chỉ thị của Đảng), chớ không cần có khả năng nghiên cứu phát hiện ra những lỗi lầm của học thuyết Marx-Lênin. Cuối cùng, họ chỉ cần có một trình độ văn hóa nhất định (trình độ sơ học hay trung học càng tốt), không đòi hỏi họ có bằng đại học. Nhưng, họ lại là những thầy giáo có vai trò lãnh đạo các thầy giáo của các bộ môn khác trong trường đại học. Mọi chủ trương, chính sách về cán bộ, về lương bổng, thậm chí về nội dung giảng dạy ở nhà trường đại học đều do thành phần này quyết định là chủ yếu.

 

          Đối với sinh viên, nếu học kém về môn chủ nghĩa Marx-Lênin thì không được lên lớp, không đủ điểm trong kỳ thi tốt nghiệp về môn này thì không được cấp bằng tốt nghiệp, dù số điểm của các môn khác có cao đến đâu (!). Sinh viên phải thi lại vào năm sau, hoặc năm sau nữa, cho đến khi nào đậu môn chủ nghĩa Marx-Lênin mới được nhận bằng tốt nghiệp. (!). Vì vậy, dư luận sinh viên đã cho rằng : ” MÔN CHỦ NGHĨA MARX-LÊNIN LÀ MÔN QUYẾT ĐNH CUỘC ĐỜI “, hay mỉa mai hơn ” MÔN CHỦ NGHĨA

MARX-LÊNIN LÀ CHA CỦA CÁC MÔN HỌC KHÁC “.

Trong thực tế, nhiều sinh viên học môn này không phải để nâng cao kiến thức, mà “học gạo”  để đối phó, miễn sao cho đủ điểm đậu, chớ không cần gì hơn. Do đó, đa số sinh viên sau khi tốt nghiệp nhất là sinh viên khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa, Sinh vật…) và

sinh viên kỹ thuật chuyên nghiệp (Cơ khí, Luyện kim, Điện học, Xây dựng, Nông Lâm nghiệp, Kế toán, Tài chánh…) đều không thể giải thích nổi một câu hỏi thuộc phạm trù lý luận của chủ nghĩa Marx-Lênin (Thí dụ : Tại sao gọi là Duy Vật Biện Chứng ? Nội dung của Chủ nghĩa Duy Vật Lịch Sử là gì ? Những điểm khác nhau giữa chủ nghĩa Xã Hội Khoa Học và Lịch Sử Đảng ? v..v…).

 

          SỰ THỐNG TRỊ MÙ QUÁNG ĐẾN CUỒNG TÍN CỦA BỘ MÔN CHỦ NGHĨA MARX-LÊNIN TRONG CÁC TRƯỜNG Đ[1]I HỌC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM , KÉO DÀI

TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1990 : 19 năm của riêng miền Bắc Việt Nam, và 15 năm cho cả nước Việt Nam. Đây quả là một tai ách đối với ít nhất 9-10 thế hệ đại học, nối tiếp nhau (nếu tính trung bình, một thế hệ là 4 năm). Nó bóp chết biết bao nhiêu tài năng của dân tộc, đồng thời nó còn gây một hậu quả trầm trọng cho việc xây dựng và phát triển đất nước trở thành một quốc gia văn minh và hiện đại !

 

          Sau sự biến động ở Đông Âu, khối Cộng Sản Quốc Tế do Liên Xô đứng đầu đã sụp đổ hoàn toàn (1988-1991, lý tưởng Cộng Sản trở thành cơn ác mộng,  và CHỦ NGHĨA MARX-LÊNIN KHÔNG CÒN Ở TÌNH TR[1]NG XÉT L[1]I HIN Đ[1]I, MÀ NÓ ĐÃ RƠi VÀO TÌNH TR[1]NG B CHỐI BỎ !  Những thần tượng Marx, Engels, Lênin, Xít ta Lin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh lần lượt sụp đổ trong lòng tin, ngay cả đối với các đảng viên Cộng Sản thức tỉnh. Vì vậy, việc học tập môn chủ nghĩa Marx-Lênin ở các trường đại học Việt nam cũng bị xét lại : Thầy giáo lên bục cũng không dám tin những điều của họ giảng là chân lý. Sinh viên ngồi học thì cảm thấy chán nản vì thấy mình đang là con cừu non trước sự thuyết giảng đầy dối trá. Cả thầy và trò đều mất lòng tin, đều cảm thấy khó chịu vì bị bắt buộc giảng và học đến như những người cuồng tín. Nhưng, trong khi các nước Đông Âu và Nga đã bãi bỏ hẳn giáo trình chủ nghĩa Marx-Lênin ở đại học, thì ở Việt Nam vẫn cứ duy trì một môn học vô giá trị đó đối với việc đào tạo tầng lớp trí thức mới. Tuy nhiên, sức mạnh của dòng tư tưởng đối kháng trong sinh viên đại học đã trưởng thành theo phong trào dân chủ tự do của toàn dân, nên đảng Cộng Sản Việt Nam không dám ngoan cố trắng trợn như những năm 1991 về trước và đã âm thầm cho phép nới lỏng yêu cầu học môn chủ nghĩa Marx-Lênin, vô hình trung không còn coi môn học này là môn học có tính quyết định số phận tốt nghiệp của sinh viên nữa.

 

          Cho đến nay, giáo trình “chủ nghĩa Marx-Lênin” cho các trường đại học đã được biên soạn lại nhiều lần, nhưng chưa có một giáo trình nào hoàn chỉnh. Đã có nhiều ý kiến cho rằng : Bộ Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp nên bỏ môn học “chủ nghĩa Marx-Lênin”, hay ít nhất chỉ xem đó là một môn học bình thường và học hay không là quyền chọn lựa của sinh viên (?). Vẫn chưa thấy ban Khoa Giáo Trung Ương Đảng trả lời dứt khoát (?).

 

          4.-  THỰC TRẠNG CỦA NỀN ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH

                HIỆN NAY.

 

          Ông Bộ Trưởng Đại Học Trần Hồng Quân luôn luôn lên tiếng về chương trình cải cách nền đại học của chế độ Cộng Sản Việt Nam trong mấy năm qua, nhưng thực tế thì không tiến triển bao nhiêu. Theo các quan chức của nền đại học Việt Nam thì MỘT TRONG LÝ DO QUAN TRỌNG LÀM CHẬM SỰ ĐỔI MỚI CỦA NỀN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LÀ KHÔNG CÓ NGÂN SÁCH”. Ví dụ như : Theo tài liệu của Bộ Tài Chánh Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cho ta thấy ngân sách của Nhà Nước dành cho việc giáo dục đại học thật là quá ít, như năm 1993 chỉ có 85 triệu Mỹ kim (chiếm 15% trên tổng số ngân sách của toàn ngành giáo dục). Phần lớn số tiền đó dành để trả lương cho giáo chức và nhân viên phục vụ ở đại học. Vì vậy, chính phủ Cộng Sản chấp thuận cho Bộ Đại Học tiến hành trước tiên là CẢI TỔ TÀI CHÁNH như thu học phí đại học, cho phép mở đại học bán công, dân lập và tư thục; đồng thời phát triển nguồn thu tài chánh từ các hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ tư vấn. Nhưng trong thực tế từ năm 1991 đến năm 1995, trong tiến trình cải tổ đại học, việc cải tổ tài chánh không đạt được kết quả đáng kể, để bù đắp cho sự thiếu hụt trầm trọng của ngân sách giáo dục đại học. Ngược lại, đã tạo ra sự cạnh tranh kiếm tiền giữa các trường đại học, làm giảm sút chất lượng giảng dạy và gây nhiều mâu thuẫn, cũng như tệ đoan tham nhũng trong các kỳ thi tuyển vào đại học

(ý kiến của Tiến Sĩ Nguyễn Thiện Tống, giáo sư đại học của chế độ Cộng Sản Việt Nam).

Và, theo các nhà nghiên cứu giáo dục đại học thì LÝ DO CHÍNH LÀM CHO CÔNG CUỘC CẢI CÁCH Đ[1]I HỌC TIẾN TRIỂN CHẬM CHẠP LÀ DO SỨC Ỳ CỦA THẾ LỰC BẢO THỦ TRONG HÀNG NGŨ LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC. Họ tuy đã chấp nhận về mặt lý thuyết rằng : “Phải cải cách nền đại học để đáp ứng kịp thời những nhu cầu về trí thức và đào tạo một xã hội giao lưu và mở cửa ra bên ngoài, nên phải chấp nhận quy luật cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, đào thải không nhân nhượng đối với mọi cá nhân đã và đang tụt hậu trước trào lưu tiến hóa  của một xã hội văn minh và tiến bộ”

 

(xem Thông tri về “Cải cách nền đại học”, 1992, phần “Lý do phải cải cách nền đại học”).

Họ cũng thừa nhận rằng : “Trong một thời gian dài hệ đại học Việt Nam được xây dựng và đào tạo trí thức mới theo kế hoạch Nhà Nước. Đại học tách rời với nghiên cứu, và tách rời nhu cầu tiến lên của xã hội, lại càng tách rời với sự tiến bộ không ngừng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang tiến hành trên hầu khắp thế giới văn minh” (tài liệu đã dẫn). Tài liệu điều tra của liên ngành Lao Động – Thương Binh – Xã Hội với liên hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật thành phố HCM thì trong số hơn 10,000 kỹ sư, cử nhân, bác sĩ ra trường trong niên khóa 1994-1995 của nước cho thấy 70% “trí thức mới chưa đủ trình độ thích ứng với những đòi hỏi của một nền kinh tế thị trường”. Theo như sự than phiền của nhiều giáo sư đang giảng dạy trong chế độ của Cộng Sản Việt Nam thì “Các giáo sư đánh giá và cho điểm các luận văn tốt nghiệp (chớ không phải luận án !) chỉ đồng nghĩa với việc ‘trả xong nợ sách đèn’. Nghĩa là các luận văn tốt nghiệp chỉ là sự luyện tập cho sinh viên về phương diện nghiên cứu chuyên đề khoa học. Thực tế, nó chẳng đóng góp gì  cho khoa học và đời sống của xã hội”. Và theo ông Nguyễn Văn Giao, chuyên viên cao cấp của văn phòng chính phủ Cộng Sản Việt Nam khẳng định : “Nhà Nước không ổn định được mức độ chất lượng đào tạo, và cũng không có khả năng đảm bảo chất lượng, nhất là trong lãnh vực nghiên cứu khoa học”. Thực tế này đến năm nào mới khắc phục ?

Sự cải cách nền đại học đang “bước những bước như rùa bò, trong khi nhu cầu điều hành, quản lý một nền kinh tế thị trường thì chạy với tốc độ cấp số nhân” !

 

          Chúng ta biết thời đại hiện nay là thời đại của hỏa tiễn và điện tử, đòi hỏi những nhà trí thức, những chuyên gia phải có khả năng thích nghi với tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hiện đại thật mau chóng, phải có khả năng sáng tạo không ngừng mới được hữu dụng. Thời đại hôm nay đòi hỏi những người có trình độ đại học không được phép dừng lại ở những gì đã học được trong nhà trường, mà phải đòi hỏi đổi nghề nhiều lần trong nghề lao động trí óc của một chuyên gia. Ngày nay, với đà văn minh mới, việc tổ chức hợp lý hóa lao động lấy máy móc làm yếu tố quyết định của Taylor đã lỗi thời. Với kỹ thuật hiện đại, chất lượng tri thức về khoa học kỹ thuật của con người là nhân tố hàng đầu trong việc tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, và tạo hiệu năng cho toàn bộ nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nhiệm vụ chính của nền đại học là đào tạo những trí thức mới thích ứng không những cho hôm nay mà cho cả ngày mai, cho những thời buổi đột biến mà chưa ai đoán chắc được ! Nền đại học Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam liệu có làm nỗi nhiệm vụ đó hay không, khi thế giới bước vào thế kỷ thứ 21, một thế kỷ có nhiều đột biến bất ngờ (?).

 

          Vì như trên đã có đề cập, số lượng giáo chức của đại học Việt Nam hiện nay rất đông, nhưng lại thiếu những giáo sư có đủ trình độ để giảng dạy ở đại học theo yêu cầu mới. Theo tài liệu thống kê của Bộ Đại Học Cộng Sản Việt Nam năm 1994-1995 cho thấy : Số giáo chức đại học có bằng cấp trên đại học (Phó Tiến Sĩ, Tiến Sĩ) ở các viện đại học lớn (Hà Nội và Thành phố HCM) chỉ chiếm hơn 30% trong tổng số giáo chức đại học cả nước. Trong khi đó, ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp hay Nhật, Úc v..v…giáo sư đại học đều phải có cấp bằng Tiến Sĩ. Đó là chưa kể bằng cấp Phó Tiến Sĩ, Tiến Sĩ ở Việt Nam còn nhiều điểm yếu hơn bằng cấp quốc tế. Tình trạng này đã tạo nên một dư luận phổ biến trong giới tuyển dụng “trí thức mới” rằng : ” ĐẠ<!–[if !supportFootnotes]–><!–[endif]–>I HỌC VIỆT NAM CHỈ SẢN XUẤT HÀNG GIẢ (!?). Và mỉa mai thay, ” NGƯỜI CHƯA TỐT NGHIP ĐẠ<!–[if !supportFootnotes]–><!–[endif]–>I HỌC CŨNG ĐI CHIÊU SINH CAO HỌC. Không thể nào tưởng tượng được trường phổ thông cũng đứng ra thông cáo mở Cao học” ( Theo Tiến Sĩ Đào Công Tiến, giám đốc trường Đại Học Kinh Tế thành phố HCM ).

 

          Việc mời một số giáo sư người Việt nước ngoài, hay một số giáo sư người Pháp, người Mỹ  vào dạy một số môn ở các đại học Việt Nam chỉ là một việc làm có tính cách “tô son điểm phấn” cho chính sách cải cách đại học của Cộng Sản Việt Nam. Thật sự, nó chẳng mang một ý nghĩa chuyển mình nào về mặt chất lượng giáo dục đại học.

 

                                                                      *

                                                                   *     *

 

          Muốn cải cách nền đại học cho có kết quả tốt trong tình hình hiện nay của Việt Nam Cộng Sản là vấn đề rất khó khăn. Vấn đề chính không phải là khó khăn về mặt ngân sách, mà ĐIỀU KHÓ KHĂN NHẤT LÀ QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ LÃNH ĐẠ<!–[endif]–>O TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM. Họ có chịu từ bỏ  chính sách giai cấp trong việc đào tạo các chuyên gia hay không ? Họ có chịu để cho nền giáo dục đại học được mở rộng, tự do phát triển như nền giáo dục đại học ở các nước Âu Mỹ hay không ?

 

          Việt Nam không thiếu mầm non nhân tài, có thể khẳng định là không thua kém bất cứ dân tộc nào trên trái đất này. Điều này đã được chứng minh hùng hồn qua sự thành công của tuổi trẻ Việt Nam ở Hải Ngoại trong hai thập niên qua ( 1975-1995 ). Thế nhưng ngày nay nền giáo dục Việt Nam tụt hậu hơn vài chục năm so với các nước láng giềng Châu Á. Thử hỏi trách nhiệm lỗi lầm này thuộc về ai ?

 

          Để thay lời kết luận, chúng tôi xin trích đăng lại lời than vãn của ông Trần Hồng Quân, đương kim Bộ Trưởng Đại Học của Cộng Sản Việt Nam, rằng : ” Nếu chúng ta đào tạo chất lượng kém thì số lượng càng lớn càng lãng phí mà thôi. Chúng ta làm HÀNG GIẢ thì có tội với xã hội và người học. Có tội ở đây là HÀNG GIẢ gây ra tai hại cho xã hội, nhưng đồng thời HÀNG GIẢ chiếm mất chỗ lẽ ra phải có của HÀNG THẬT để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội to lớn” ( Theo bài ” Chất lượng giáo dục đồng thời “, báo Tuổi Trẻ, 27-11-94 )

 

Thu Tháng Sáu 18, 2008

THU

 

Phạm Văn Hải

Mùa thu ở miền bắc có vẻ đẹp buồn buồn, hiu hắt và dễ cảm. Người đầu tiên thường trò chuyện với tôi cũng là Thu, cũng đẹp, nhưng lúc nào cũng vui tươi. Nàng có nét mặt thật xinh, nói cười duyên dáng và tất khả ái. Có lẽ Thu hay ăn quà vặt nên hơi đẫy và mịn màng. Tôi chưa thấy ai có nước da đẹp như vậy. Chỉ tiếc một điều : dáng đi hơi nhanh, không được klhoan thai như tôi thường nghĩ về mẫu người lý tưởng.
Năm đó, tôi mười bốn tuổi còn Thu mười ba, bằng tuổi thằng em tôi. Cũng năm đó, Thu cho tôi biết vài ý niệm về đàn bà. Nếu tôi ham thích và cũng lớn trước tuổi như nàng, chắc chắn Thu đã cho biết nhiều hơn.
Tôi không nhớ rõ lắm, có lẽ sau vài ngày gia đình tôi dọn đến nhà nàng, chúng tôi đã thân nhau rồi. Ai làm quan trước? Tôi chịu không nhớ được. Nhút nhát như tôi, chưa dám nói với con gái bao giờ, chắc chắn không đủ can đảm để gợi chuyện. Có thể một lần,nàng ra hỏi:”Mẹ anh có nhà không?” rồi chúng tôi quen nhau.
Tối tối,tôi lên phòng nàng. Con gái thường kém toán. Giúp đỡ Thu là việc nên làm. Vì thế không có ai ngăn cản.
Bao giờ Thu cũng đứng bên tay trái tôi. Còn tôi ngồi ghế của nàng. Chỉ khi nào Thu cần viết, mới đổi chỗ. Thu sáng dạ,nói đâu hiểu đó. Thỉng thoảng nàng hỏi tôi vài câu ngoài việc học hành. Hỏi đủ thứ.
Một buổi chiều, tôi rón rén lên gác. Thu không có trong phòng. Tôi sang nhà khách, thấy nàng học bài trên sập, gần lối ra vào.
-Ngồi đây anh!
Thu xích vào trong dành chỗ cho tôi. Tôi cảm thấy có gì bất thường, nhưng vẫn nghe lời.
Tôi ngồi sát bên Thu. Nàng buông vở, hỏi mấy câu rối nằm quay mặt vào tường:
-Nóng ơi là nóng! Rôm nó đốt làm Thu ngứa lưng quá. Gãi hộ Thu một tí!
Tôi chần chừ, chưa biết phản ứng ra sao. Nàng với lấy tay tôi, ấn vào lưngt:
-Ở chỗ này.Gãi đi anh. Mạnh lên! Cứ như thế! Tôi riu ríu làm theo.
Chỉ vài phút sau, giữa lúc tôi không ngờ-mà có bao giờ dám ngờ- Thu xoay người lại. Tay tôi chưa kịp đổi theo. Tôi lúng túng đến đờ đẫn. Một rung động nhẹ nhàng bén nhậy chuyển khắp thân tôi. Nhưng không lâu- chỉ mấy giây- Thu đứng lên: -Thôi tụi mình xuống nhà dưới đi!
Thế là tôi phải theo nàng.
Sau buổi chiều đó, chúng tôi thân nhau hơn.Cảnh gãi lưng chỉ xảy một lần. Một lần độc nhất trong đới tôi. Tôi nghiệm thấy rằng: hành động đặc biệt nào của Thu cũng chỉ xảy ra một lần.
Cho đến ngày gia đình tôi dọn đến phố hàng Chuối, tôi còn lên phòng nàng mấy buổi chiều nữa. Thường thường, trước khi xuống nhà dưới, Thu thay áo. Ở ngay trước mặt tôi. Tôi ngượng,nàngkhông ngượng. Có lần tôi nhìn nàng đăm đăm. Thu đẹp quá. Đẹp hơn pho tượng ở lớp vẽ của tôi. Có lẽ lúc đó,mặt tôi ngẩn ra. Thu cười. Nàng hưá:
- Nếu anh ngoan, Thu cho anh hôn một cái.
Câu nói của Thu làm tự ái của tôi bị tổn thương. “Mày coi tao như trẻ con không bằng. Tao đâu có cần.” Nghĩ thế nhưng tôi không dám hé môi. Sợ Thu giận. Thật ra lối trịch thượng của nàng có nguyên nhân. Nếu ở nhà chỉ có nàng và tôi, Thu đi đâu,tôi theo đó. Thậm chí, một sámh chủ nhật đầu mùa đông, sau một hồi lên gác xuống nhà, chạy ra chạy vào như hai con tinh, Thu nhảy lên giường, ngồi gọn trong chăn. Tôi nhảy lên theo,kéo chăn ra.ngồi bên nàng. Chúng tôi bá vai nhau, cười hinh hích.
Thu còn bảo tôi làm nhiều thứ quỷ quái nhưng tôi không dám. Tôi thấy ghê quá!
-Người con trai nài cũng thích như vậy. Sao anh không thích?
Tôi không biết trả lời thế nào. Chưa bao giờ nghĩ đến hành động ấy. Tuy nhiên tối tối, tôi vẫn giúp nàng làm toán và vẫn bị nàng tra hỏi.
 Ở nhà mới, Thu đền thăm gia đình tôi mấy lần.Lạ thay! Nàng đối với tôi chẳng khác gì người xa lạ. Mỗi lần tôi mon men đến gần hỏi vớ vẩn mấy câu, Thu trả lời cho xong, rồi lảng đi chỗ khác ngay.
Tôi buồn bực ít lâu rồi cũng quên đi.
Cả nhà tôi không ai biết hành động của tôi và Thu. Không ai ngờ. Ai mà ngờ được!Mẹ tôi bảo:
-Con bé dễ thương quá. Nó nói muốn làm con dâu tao. Không biết nó chịu đứa nào?
Tôi cũng không biết Thu chịu người nào. Tôi nhớ có lần nàng tâm sự.
-Em bé quá, chẳng biết gì. Anh Thanh dữ quá. Còn anh Thái đi tối ngày, chưa có dịp nói chuyện.
 Ít lâu sau, có người nhà tôi mách.
-Cô Thu phải lòng cậu Thái. Ngày cậu Thái vào trường Đà Lạt, cô ấy tặng một chiếc nhẫn.
Cách vài năm sau- Thu vẫn còn ở lại Hà Nội- gia đình tôi di cư vào miền Nam. Anh tôi,một buổi tối, vui chuyện cũ, cho biết chiếc nhẫn đã được bán ngay hôm đó để lấy tiền đãi bạn bè.

Phạm Văn Hải

 

Mai Tháng Sáu 18, 2008


Mai

Mai nở trên cành,
Mai nở trong ta.
Bầu trời tỏa ngát
Hương hoa ngạt ngào.
Không gian rúng động,
Thiết tha mê cuồng
Suối mơ ngọt lịm
Tình trường miên man
Lời chim run rẩy
Mai mềm ngất ngây
Hân hoan vũ trụ
Trời mây tưng bừng.

Phạm Quân Khanh
Trích:”Thơ Phạm Quân Khanh”