Sontrung’s Weblog

CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN HÒA BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN Tháng Sáu 27, 2008

Nguyễn Thiên Thụ

CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN HÒA BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG I: VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG-SẢN

 
Trong hơn một trăm năm nay, thế giói đã trải qua bao biến cố trọng đại. Tuy mang những nhãn hiệu khác nhau, nhưng con người đã chung một lòng tham, một ý chí xâm lựơc và gây chiến tranh. Sụ kiện này đã khiến cho thế giới phải trải qua hai trận thế chiến khốc liệt. Trong các tập đoàn tội phạm chiến tranh, chúng ta phải kể đến tâp đoàn thực dân, tập đoàn phát xít và tập đòan cộng sản.

Thực ra thực dân và phát xít cũng là một bọn mặc dầu khác danh hiệu. Họ đều là những kẻ xâm lược, dùng sức mạnh quân sự để xâm chiếm đât đai kẻ khác, bắt kẻ khác phải làm nô lệ dưới ách thống trị của họ. Ngày nay, chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa phát xít đã tiêu vong, chủ nghĩa cộng sản đã tiêu tan gốc rễ mà chỉ còn cành lá còi cọc ở một vài nơi. Trong một thời gian nũa, chủ nghĩa cộng sản trên thế giới sẽ bị tiêu diệt tận gốc rễ bởi vì nhân dân Trung quốc, Việt Nam,Triều Tiên, Cu Ba. . . đã và đang đứng lên giành tự do, dân chủ.

Hiện nay, niềm quan tâm hàng đầu của chúng ta vẫn là thảm họa cộng sản. Chúng ta phải tích cực đẩy mạnh cuộc tranh đãu cho nhân quyền tại các quốc gia cộng sản để cho dân chúng nơi đây được thấy tự do dân chủ trong đầu thế kỷ mới.

Chủ nghĩa cộng sản đầy rẫy những sai lầm cơ bản trong lý thuyết và trong thực tế.

 
I. Sử quan :

a. Người cộng sản quả quyết nhân loại sẽ tiến theo chiều thẳng, cái mới phủ định cái cũ. Lịch sử trái lại cho thấy nhân loại có thịnh có suy, có thành có bại, không phải cái mới bao giờ cũng thắng cái cũ.

b. Người cộng sản tin rằng lịch sử nhất định tiến qua từ cọng sản nguyên thủy đến phong kiến, tư bản rồi đến cộng sản. Nhưng thực tế có nhiều bộ lạc nay vẫn sống trong thời nguyên thủy, nhiều quốc gia vẫn theo chế độ quân chủ. Cách đây mấy chục năm, họ bảo chủ nghĩa tư bản dẫy chết thế mà đến nay, tư bản vẫn sống, và người cộng sản phải ngữa tay xin tiền tư bản.

c. Họ cương quyết bảo rằng xã hội cộng sản là lý tưởng, là đỉnh cao của nhân loại. Trong khi đó vận dụng biện chứng pháp họ nói xã hội luôn biến chuyển, luôn thay đổi từ xấu đến tốt, xã hội luôn tiến theo con đường thẳng, tuơng lai phủ định hiện tại ! Họ mâu thuẫn với chính họ. Vậy xã hội loài người tiến bộ hay không tiến bộ, đổi thay hay không đổi thay ? Nếu đổi thay thì xã hội cộng sản nay mai cũng bị đào thải,và sau cộng sản là xã hội nào thay thế ? Nếu chủ nghĩa cộng sản cũng bị đào thải, người cộng sản có gì để tự hào ?

 
II. Thực tế :

 
Chủ nghĩa cộng sản ngày càng thất bại, để lộ những khuyết điểm , những sai lầm của họ :

 
1. Độc tài, tàn bạo,xão quyệt.

Ở Liên Xô, Trung quốc, Triều tiên, Việt Nam. Cambodge, đâu cũng do chế độ độc tài đảng trị, dùng mọi âm mưu và thủ đoạn tàn ác, gian xão để cướp quyền và cầm quyền.

a. Chúng tàn sát đồng chí :

Nơi nào có cộng sản đều có sự tranh đoạt quyền hành và sát hại lẫn nhau. Khởi đầu là Staline giết Trotsky, Mao Trạch Đông giết Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ . Sự kiện này xảy ra vì bản chất hung bạo của loài lang sói, của chế độ thiếu văn minh.

Sự kiện này xảy ra cũng vì đất nước thiếu dân chủ, thiếu một sự chuyển quyền bính hòa bình , dân chủ và căn bản pháp lý. Kẻ nắm quyền thì muốn ngồi vĩnh viễn cho đến chết, và thường nghi kị những kẻ xung quanh.

b. Chúng tàn sát đồng bào,

Tàn ác và độc tài là bản chất của cộng sản vì con đường của họ là chuyên chính vô sản. Chủ trương chuyên chính vô sản không tha thứ cho những kẻ đối lập, không thỏa hiệp với những người không thuộc phe cánh, không đồng chính kiến. Họ chỉ tranh đấu cho bản thân họ. Họ giết người, bắt người không cần bằng chứng, không cần tòa án vì chủ trương giết lầm hơn bỏ sót.

 Cộng sản tại các quốc gia đều phạm tội diệt chủng. Chúng đã giết hại hàng triệu, hàng trăm ngàn dân chúng vô tội, Staline đã giết hàng triệu dân chúng, đầy ải hàng triệu sinh mạng trong vùng Siberia lạnh gíá. Mao Trạch Đông đã giết hàng triệu dảng viên và thường dân trong các vụ cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa. Hồ Chí Minh đã giết non triệu người gồm các nhà cách mạng, các lãnh tụ tôn giáo và đồng bào vô tội trong cách mạng tháng tám,trong cải cách ruộng đất và trong tết mậu thân 1968. Và Pon Pot đã giết khoảng hai triệu dân Kampuchia.

2. Gây chiến tranh.

- Cộng sản chủ trương chiến tranh,đem tất cả tài nguyên chế tạo vũ khí, sử dụng phần lớn ngân sách cho quốc phòng, bắt thanh niên đổ xương máu trên chiến trường, không chú trọng đến đời sống của dân chúng.

- Cộng sản là một đế quốc. Dưới danh nghĩa quốc tế vô sản, giải phóng dân tộc, cộng sản đã đem chiến tranh đến nhiều nơi trên thế giới,nhất là tại Á Phi. Nga sô đã xâm chiếm Đông Âu, chiếm cứ lãnh thổ Trung quốc. Còn Trung quốc thì xâm chiếm Tây Tạng, và Việt Nam xâm chiếm Lào và Cambodge.

3. Thất bại chính trị.

Cộng sản tự hào đảng của họ là tinh hoa, là trí tuệ. Đảng lãnh đạo tập thể, đảng sáng suốt. Nhưng thực tế cho thấy đảng lãnh đạo độc tài, giả dối, phi dân chủ. Tất cả quyền hành nằm trong tay đảng. Chính phủ, quốc hội, tư pháp là công cụ của đảng trong trò chơi dân chủ giả hiệu.

Đảng tự hào sáng suốt nhưng thực tế đảng đi từ thất bại này sang thất bại khác.

Nếu lãnh tụ anh minh, tại sao dân chúng căm thù đảng ? Nếu đảng tài ba tại sao nhân dân Liên Xô và Đông Âu đã đứng lên lật đổ đảng ? Những thất bại trong bao lâu ở các quốc gia cộng sản cho chúng ta thấy đảng sai lầm lớn lao khi chủ trương vô sản chuyên chính, đưa những người ngu dốt và vô đạo đức lên lãnh đạo quốc gia.

Sự thực, Đảng chỉ là tập hợp những kẻ ngu dốt, tàn ác, nịnh hót do một kẻ đại gian, đại ác lãnh đạo. Nếu thành công thì chúng bảo là do lãnh tụ anh minh, nếu thất bại là do cá nhân phụ trách.

4. Thất bại kinh tế :

Người cộng sản tin tưởng rằng xã hội tiến theo con đường thẳng. Xã hội phong kiến tiến bộ hơn xã hội bán khai. Xã hội tư bản tiến nhanh hơn xã hội phong kiến. Và theo họ, xã hội cộng sản tiến bộ gấp năm gấp mười xã hôi tư bản. Nhưng thực tế cho thấy những nhận định của Marx và Lénine là sai lầm.

- Chủ nghỉa cộng sản độc tài,tàn ác khiến cho dân chúng bất mãn, chống đối công khai và thầm lặng.

- Chủ nghĩa cộng sản quan niệm hồng hơn chuyên cho nên không được những trí thức chân chính ủng hộ. Cộng sản bóc lột khiến cho dân chúng không tích cực làm việc , không tích cực ủng hộ trong mọi chính sách đặc biệt là trong sản xuất.

- Cộng sản hô hào tăng năng suất, bắt nông dân ngày đêm đổ mồ hôi trên nông trường, bắt thợ thuyền lao động không kể giờ giấc . Khi chưa nắm chính quyền, cộng sản hô hào mỗi ngày làm việc 8 tiếng, chia ruộng đất cho dân nghèo . Nhưng khi đã nắm chính quyền, cộng sản bóc lột dân chúng hơn là địa chủ, thực dân . Cộng sản đã đàn áp bóc lột nhân nhân, phản bội dân nghèo,dân lao động :

” Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm,làm thêm ngày nghỉ. “

 
“Một người làm việc bằng hai,
Để cho cán bộ mua đài sắm xe.”

“Một người làm việc bằng ba,
Để cho cán bộ tậu nhà sắm xe.”

Thực tế cho ta thấy nơi nào có cộng sản thì dân chúng bị khủng bố, đàn áp , mất nhân quyền, mất tự do, mất dân chủ, kinh tế xuống thấp, trẻ em thiếu dinh dưỡng, thiếu trường học , dân chúng thiếu thuốc men, thiếu cơm ăm áo mặc , trong khi giai cấp mới tham nhũng cướp bóc mà không bị trừng phạt.

Nói tóm lại, cộng sản là đại họa của nhân loại.

Chủ trương vô sản chuyên chính là một chính sách độc tài, khát máu, phi dân chủ, nhằm cướp hết mọi thứ tự do của con người.

Chủ trương vô sản chuyên chính là một chủ trương ngu xuẩn nhằm đưa người ngu dốt và tàn ác nắm chính quyền, khiến cho quốc gia suy sụp, nền kinh tế quốc dân ngày càng kiệt quệ, quốc gia trở thành tài sản riêng của tư bản đỏ. Thân phận người dân tại các quốc gia cộng sản còn thua thú vật bởi vì những con chuột, con khỉ trong xã hội tư bản được thí nghiệm bởi những nhà bác học, còn dân chúng quốc gia cộng sản được thí nghiệm bởi những người ngu dốt và tàn bạo.

Chủ trương giải phóng dân tộc thực sự là một chủ trương gây chiến tranh toàn cầu,nhắm gíúp các cường quốc cộng sản bành trướng lãnh thổ , bành trướng thế lực. Đó cũng là một hình thức của chủ nghĩa thực dân,khiến cho nhân loại triền miên đau khổ.

Tổ chức đảng chỉ là một tổ chức Mafia, còn chính phủ và quốc hội chỉ là tay sai của đảng trong trò chơi dân chủ. Người dân các nước dân chủ chỉ đóng thuế nuôi chính phủ, phục vụ chính phủ, còn người dân ở các quốc gia cộng sản phải chịu một cổ hai tròng, phải nuôi nấng bọn đảng ăn hại đái nát, lại phải phục vụ bộ máy nhà nước cồng kềnh với bao kẻ vô tích sự, cùng số quân đội và cảnh sát rất đông đảo.

Muốn đi đến hòa bình, phát triển, chúng ta phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản.

(còn tiếp)

 

CHƯƠNG II:  NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

 

 
Mục tiêu của chúng ta là hòa bình và phát triển.

 
Trước tiên, chúng ta cố gắng đạt được hoà bình cho tâm hồn. Hoà bình là sự an lạc cho tâm hồn, không oán thù,không đau khổ. Đi xa hơn nữa, chúng ta phải đạt hòa bình cho đất nước chúng ta. Hoà bình là sống yên ổn,không loạn lạc, xáo trộn,không chiến tranh. Và sau cùng, chúng ta mong muốn mọi người trên trái đất được an cư,lạc nghiệp , không bị cảnh khói lửa điêu tàn làm cho cha xa con,vợ xa chồøng. máu chảy thành sông, xương chất thành núi.

 
Phát triển nghĩa là tiến bộ,hôm nay đạt nhiều thành công hơn ngày hôm qua.

 
Chúng ta cố gắng phát triển thể chất, phát triển tinh thần để cho bản thân ta ngày càng tiến bộ . Chúng ta cố gắng phát triển khoa học kỹ thuật,kinh tế,thương mại, chính trị,giáo dục.. .để đem lại thịnh vượng và hạnh phúc cho nhân dân ta. Nhiều quốc gia cùng phát triển như thế sẽ đem lại một thế giới no ấm và tiến bộ.

 
Có nhiều phương cách để đạt hoà bình và phát triển, nhưng chỉ có một con đường mà thôi, đó là chánh đạo, chánh nghĩa.

 
Nhiều người dùng bạo lực giải quyết mâu thuẫn . Nhiều người dùng thủ đoạn gian xảõo để phát triển như phát triển đất đai, phát triển thế lực. Họ là những kẻ gây chiến tranh, những kẻ bành trướng, những kẻ xâm lược ẩn nấp dưới những danh nghĩa truyền bá văn minh, giải phóng dân tộc, giải phóng thế giới. . .

 
Ở đâu cũng có hai thế lực đối chọi nhau. Một bên là thiện, một bên là ác.. Trong xã hội có những người muốn lấy của người làm của mình , có những kẻ muốn chém giêt, đàn áp,chế ngự,thống trị đồng loại để thoã mãn thú tính của họ nhưng cũng có những hiệp sĩ cứu khổn phò nguy, những bậc thánh xã thân giúp người. Thiện mà thắng thì tâm ta an lạc, quốc gia thịnh vưọng và thế giới thanh bình. Ác mà thắng thì ta đau khổ , quốc gia hỗn loạn, thế giới biến động.

 
Vậy muốn xây dựng một thế giới an bình và thịnh vưọng cho ta và cho mọi người, chúng ta cần phải xây dựng tư tưởng và hành động theo những nguyên tắc chủ yếu như sau :

 

I. ĐẠO ĐỨC :

 
Luân lý, đạo đức là những khuôn mẫu xẵ hội có mục đích làm cho mốâi tương quan giữa người và người thêm tươi đẹp.Người cộng sản hủy bỏ luân lý cũ vì họ sợ nó cản trở hành động gian trá và vô nhân đạo của họ.Marx ,Engels, Lénine không nói đến luân lý. Cộng sản đàn em tạo ra một thứ thánh kinh mới , goi là đêạo đức cách mạng : căm thù, chém giêt, tôn sùng Đảng và lãnh tụ. Vì vậy, xã hội cộng sản là một xã hội tàn ác, dối trá, tham nhũng, bất công.

 
Xã hội Tây phương và Đông phương không thiêú những con người có phẩm chât đạo đức cao quý như Abraham Lincoln , Martin Luther King, Gandhi . . .

 
Nhiều người cho rằng chính trị là thủ đoạn. Sự thực không riêng gì chính trị làthủ đoạn mà bất cứ ở đâu có con người gian ác là có thủ đoạn ngay cả trong y dược, tôn giáo. Và trong chính trị cũng không thiếu gì người quang minh chính đại mà vẫn thành công. Nếu chúng ta muốn theo lý tưởng cao cả phục vụ đồng bào , phục vụ nhân loại, chúng ta phải theo con đường nhân nghĩa, đạo đức. Nếu làm chính trị mà không theo chiùnh đạo là tội nhân của thiên hạ.

 
Lẽ dĩ nhiên không ai đòi hỏi ngừời hoạt động chính trị phải là một bậc chân tu.

 
Ngừời hiền lành,thật thà quá không thể làm chính trị mặc dầu họ có thể là những cố vấn giỏi. Làm chính trị theo chánh đạo nghĩa là phục vụ đồng bào, đặït quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi bản thân, không lừa dân dối nưóc,không tham nhũng, cướp bóc dân chúng, không khủng bố,tàn sát dân lành , tôn trọng tự do,dân chủ của nhân dân.

 
Chính những con người có giá trị đạo đức cao mới có thể đem lại hòa bình và phát triểân cho quốc gia và nhân loại.Nếu ta dùng bá đạo, tà đạo,ta có thể thành công nhanh chóng, nhưng thành công đó là nhất thời. Gian tham , tàn ác sẽ gây thiệt hại cho cho người và cho mình.

 
Có nhiều tiêu chuẩn đạo đức. Nho gia đặt ra Nhân,Nghĩa,Lễ,Trí ,Tín. Phật giáo nêu Từ bi, Thiên chúa giáo hô hào Bác ái, Hồi giáo chú trọng Tình huynh đệ. Cách mạng Pháp đã đưa ra khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Tình Huynh đệ. Nếu chúng ta muốn thực hiện một cuộc cách mạng nhân bản, chúng ta không thể bỏ qua những điểm trên.

 
Nhân nghĩa, Từ bi, Bác ái, Tình huynh đệ đều là một,đều là tình thương yêu.Người làm chính trị phải thương nhân dân như cha mẹ thương con, như anh em ruột thịt một nhà. Đây là một điểm tương đồng lớn trong văn minh nhân loại.

 
Nghĩa ,Lễ, Tự do, Tình huynh đệ, Bình đẳng cũng là một ,vì đó là lẽ phải,là sự công bằng, sự tôn trọng người khác. Mình muốn tự do thì phải tôn trọng tự do của người.Không nên có tình thần riêng tư, bè phái,không có tình thần kỳ thị, phải coi mọi người là anh em, là ngang vai,là đồng đẳng.
Chúng ta có thể nói rằng công bằng và nhân ái là hai điểm quan trọng trong tiêu chuẩn đạo đức con người.

 

1. Công bằng.

 
Muốn sống chung hoà bình với người khác, ta phải tôn trọng con người họ, tôn trọng quyền sống, quyền tự do của họ, không kỳ thị, không phân biệt.
Nói đến công bằng, ta phải nói đến bình đẳng, bình quyền bơỉ vì tạo hóa sinh ra mọi người đều bình đăûng. Chế độ thực dân đã tạo ra khoảng cách giữa người cai trị và kẻ bị trị, giữa chủ và nô. Phát xít Đức tạo ra tinh thần phân biệt chủng tộc và diệt chủng.

 
Cộng sản tạo ra bất bình đẳng giữa quần chúng với đảng viên, giữa đảng viên thâm niên với đảng viên tân tòng, giữa đảng viên cao cấp với đảng viên hạ cấp.Cộng sản chủ trương tàn sát và khủng bố, bóc lột và đè nén nhân dân, cấm đoán mọi thứ tự do của con ngừời như tự do đi lại, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng .

 
Cộng sản trừng phạt nhân dân nhưng lại bao che cho các đảng viên phạm tội bằng thủ đoạn cho hưu trí, kỷ luật nội bộ hay thuyên chuyển. Chỉ có những đảng viên yếu thế , hay tội lỗi quá lớn lao không thể che đậy mới bị ngồi tù hay bị trừng phạt nhẹ.

 
Người biết tôn trọng công bằng, tôn trọng lẽ phải không bao giờ chấp nhân chủ nghĩa cộng sản độc tài,khát máu và xảo trá.

 
Và nói đến công bằng, ta phải nói đến công lý, đến luật pháp, hiến pháp.

 
Người có đạo đức là người có lương tâm con người và tôn trọng luật pháp.

 
Tôn trọng luật pháp nghĩa là không gian tham,tàn ác,không cậy quyền thế mà làm thiệt hại tài sản và tánh mạng nhân dân, không đi ngược quyền lợi nhân dân và phản bội tổ quốc, không làm trái hiến pháp .

 
Cộng sản cai trị bằng mệnh lệnh,không có pháp luật. Cộng sản coi thường pháp luật vì họ nói và làm là hai điều khác nhau.

 
Chế độ quân chủ và dân chủ xưa nay đều tôn trọng pháp luật. Những con người chân chính, những công dân hiền lành bao giờ cũng tôn trọng pháp luật. Những kẻ gian giảo thường tránh né pháp luật hay dùng quyền uy để vi phạm pháp luật. Nếu người làm chính trị, nếu công chức nhà nước vi phạm pháp luật như gian tham, hối lộ, lạm dụng quyền thế , bắt giam người trái phép, làm thiệt hại tài sản và tánh mạng nhân dân tức là đã khuyến khích thuộc cấp đi vào con đường phản dân hại nước. Một lãnh đạo như thế, một chính phủ như thế sẽ khiến dân chúng đau khổ, quốc gia suy vong. Một vị lãnh đạo tốt, một chính phủ tốt là phải tôn trọng hiến pháp và pháp luật. Đừng vì cá nhân mình, gia đình mình, tôn giáo mình mà đặt ra pháp luật . Đừng vì quyền lợi bản thân và phe nhóm mà sửa đổi hiến pháp như để cha truyền con nối, để làm tổng thống thêm nhiệm kỳ ba, nhiệm kỳ tư hay trọn đời. Đó là những hành vi vô đạo đức.

 
Khi một vị lãnh đạo vô đạo đức, coi khinh pháp luật và hiến pháp sẽ gây ra sự xáo trộn trong nước :

 
Dột từ nóc dột xuống.
Thượng bất chính,hạ tác loạn .

 
Để phát triển đạo đức, gia đình và học đường phải có nhiệm vụ huấn luyện thanh thiếu niên .Ngoài ra, quốc gia phải chú trọng tổ chức một nền pháp luật nghiêm minh để ngăn chận và trừng phạt thích đáng những kẻ phạm pháp.

 
Ở đây , báo chí và đảng phái đối lập có nhiệm vụ trọng đại là phê phán đường lối sai lầm của những kẻ làm chính trị vô lương tâm, nói lên ý kiến và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

 

2.Nhân ái :

 
Tất cả tôn giáo đều khuyên ta nên yêu thương người khác trong tình huynh đệ, trong tình nhân loại. Có tình yêu đồng bào, tình yêu nhân loại, ta mới có thể làm trọn nhiệm vụ phục vụ quốc gia, nhân loại. Nếu không, ta là kẻ sâu dân,hại nước.

 
Cộng sản độc tài tàn bạo, khủng bố đày đọa dân chúng. Chúng ta theo nhân nghĩa, chúng ta tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do,bình đảng , mang tình thương đến cho mọi người, xóa tan mọi hận thù .

 
Chúng ta không phải là bậc thánh nhưng phải là người công chính, vì con người, vì đất nước mà tranh đấu.

 
Nhân ái là tình yêu. Chúng ta có nhiều thứ tình yêu. Cộng sản bắt con người từ bỏ tình yêu, tất cả hi sinh cho đảng. Họ hủy bỏ tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình theo chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc. Trái lại, chúng ta yêu tất cả. Chúng ta yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu nhân lo ại, yêu thiên nhiên. Vì những tình yêu cao đẹp trên, chúng ta chiến đấu chống độc tài đảng trị, chúng ta cố gắng nâng cao khoa học kỹ thuật để quốc gia, và nhân loại được phát triển và thịnh vượng.

 

II.Trung đạo
 
1. Trung đạo là chánh đạo. Theo trung đạo là theo chánh nghĩa , là làm việïc thiện, không hại mình, hại người. Trung đạo là chân thiện mỹ.

 
Ở đây, trung đạo và đạo đức có chỗ tương đồng. Người theo luân lý, đạo đức là theo chánh nghĩa, người giữ đạo lý thường hằng của con người. Muốn giữ chánh đạo , ta phải có trí tuệ, có óc lý luận, biết phán đoán, biêt phân biệt thiện ác, tốt xấu, Ngoài ra chúng ta còn phải kiên quyết, kiên định lập trường vững chắc, không thay lòng đổi dạ, không chao đảo, không sợ uy vũ, không tham tiền bạc,danh vọng.. .

 
Cộng sản tàn ác, kiềm hãm mọi thứ tự do của dân chúng, cộng sản giết người man rợ, cộng sản diệt chủng, công sản gian trá, xão quyệt.. .Chúng là bọn tà đạo , phi luân lý, đạo đức . Chúng ta tranh đãu cho tự do, dân chủ và nhân quyền , chúng ta chống lại cộng sản tức là chúng ta theo con đường chánh nghĩa, theo trung đạo để mưu cầu tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân.

 

2.Trung đạo là con đường ngay thẳng, không thiên lệch, không cực đoan.

 

Thái quá và bất cập là hai trạng thái đem lại đau khổ về tinh thần và vật chất . Quá vui quá buồn. quá sung sướng, qúá cực khổ, quá hoang phí, quá hà tiện , quá chăm chỉ, quá lười biếng.. . là những thái quá trong cuộc sống.

 
Cộng sản là một thái quá. Chúng bắt con người hy sinh cho tập thể. Không phải một thế hệ mà nhiều thế hệ hy sinh cho tư bản đỏ làm giàu. Con đường trung đạo là tôn trọng tự do cá nhân đồng thời tôn trọng quyền lợi tập thể. Chúng ta chỉ hy sinh con người trong những trường hợp rất đặc biệt. Không nên lạm dụng xương máu đồng bào hỡi những kẻ chính trị phiêu lưu và gian ác ! Những danh từ ” hy sinh”, ” chiến đãu.” . .thực ra là những danh từ hoa mỹ để che đậy sự bóc lột dã man của bè lũ cộng sản từ đông sang tây!

 
Cộng sản bắt con người từ bỏ tư hữu. Đó là một cực đoan và một sự lừa dối vì tài sản quốc dân bị lọt vào tay những tên cộng sản gộc, sống sung sướng trên đau khổ của nhân dân.

 
Công sản bắt con người từ bỏ tư hữu và bắt lao động không ngơi nghỉ, không đủ cơm ăn áo mặc. Con người có nhiều quyền tự do, trong đó có quyền tự do tư hữu, không ai có thể tước đoạt quyền này. Nếu không có quyền tư hữu, con người sẽ không tích cực làm việc, không có trí sáng tạo, không có niềm vui, không có sự phấn đãu, sự thi đua.. . Đà sản xuất sẽ suy giảm. Kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật sẽ sa sút. Chế độ cộng sản tước bỏ quyền tư hữu nghĩa là chủ nghĩa này bóc lột con người, khiến cho con ngườI vĩnh viễn đói khổ, vĩnh viễn làm nô lệ cho cộng sản. Con người sẽ như một con thú không tài sản, không tình yêu, không lạc thú . Chúng biến cả nước, cả thế giới thành một trại tù khổng lồ mà chủ nhân là những tên cộng sản tham lam, ngu dốt.

 
Trung Đạo là con đường chính giữa hai cực đoan, nhưng không phải là trung lập. Có nhiều trường hợp trung lập. Chúng ta có thể giữ trung lập giữa hai phe đánh nhau,và chúng ta có thể giữ vai trò hòa giải để đem lại hòa bình trong cuộc chiến tranh. Nhưng không thể nào giữ trung lập giữa thiện và ác. Người theo chánh đạo phải theo con đường thiện.

 
Trong chính trị hiện nay, cộng sản là bọn gian ác. Chúng ta phải tiêu diệt chúng. Không thể có việc hòa hợp, hòa giải, hoặc cộng tác với cộng sản để cứu dân hoặc để hướng dẫn, lãnh đạo cộng sản như một số người ngây thơ hoặc một số làm tay sai cho cộng sản, đã bị cộng sản dẫn dụ.

 
Chủ nghĩa cộng sản là con đường đại gian, đại ác, không thể nào nửa theo quốc gia, nửa theo cộng sản, nửa theo tư bản, nửa theo cộng sản. Trước đây nhiều quốc gia xưng là trung lập nhưng sự thực là trung lập thân cộng.Tại miền nam, trước 1975, một số chính trị gia xưng là lực lượng thứ ba, sự thực chúng là tay sai cộng sản. Và khoảng1950- 1960, nhiều chính trị gia, triết gia chủ trương dung hòa tư bản và cộng sản, đó chỉ là những ảo tưởng. Nhiều quốc gia đã chủ trương dung hòa đường lối kinh tế tự do và kinh tế chỉ huy,họ gọi là kinh tế bán chỉ huy nhưng đường lối này đã thất bại. Nước Pháp thời đảng xã hội cầm quyền đã là một gương xấu cho chủ trương này. Chúng ta chưa biết tương lai thế giới sẽ đi theo con đường kinh tế nào nhưng hiện nay kinh tế tư bản vẫn là một nền kinh tế gương mẫu,và thịnh vượng.

 

3.Trung đạo là quân bình.

 

Trong đời sống, chúng ta phải giữ quân bình tinh thần và vật chất, quân bình thu với chi , quân bình giờ làm với giờ nghỉ. Một quốc gia muốn có nền kinh tế giàu mạnh, trước tiên phải quân bình xuât cảng với nhập cảng, quân bình ngân sách chi thu

 
Tuy nhiên, chúng ta phải tránh chủ nghĩa bình quân ( chia đều ). Cộng sản trước đây đã áp dụng chủ nghĩa bình qúân. Trong khi bọn cán bộ cao cấp cọng sản hưởng những đặc thù đặc lợi thì dân chúng và cán bộ cấp dưới được ban bố một chính sách bình quân. Mọi người đều được cấp phát thực phẩm và vải giống như nhau. Mọi người hưởng lương gần giống như nhau. Lương giáo viên cấp ba và cấp hai mới ra trường chỉ xê xích một vài đồng, một vài xu.. .

 

4. Trung đạo cũng có nghĩa là toàn diện.

 
Chúng ta lo học tập khoa học,kỹ thuật nhưng chúng ta cũng phải tập thể dục, chúng ta nâng cao chuyên môn nhưng không quên thơ,nhạc,hội họa. Các nước cộng sản phát triển không cân đối, họ chỉ chú trọng phát triển quân sự, tăng cường bộ máy chiến tranh, không chú trọng đến vấn đề tiêu dùng , và đời sống quốc dân.

 
Cộng sản chú trọng giáo dục chính trị, chúng ta chú trọng giáo dục toàn diện .đức, trí, thể,mỹ. Cộng sản chú trọng dân vô sản mà cụ thể là con em cán bộ, chúng ta chú trọng giáo dục toàn dân,không phân biệt trẻ già, nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, giai cấp. . .

 

5. Trung đạo là dung hòa.

 
Giữa hai thái cực, nhiều khi chúng ta phải chọn lấy sự dung hòa. Chúng ta ưa thích khí hậu ôn hòa và rất khó chịu khi khí hậu quá nóng, quá lạnh. Giữa chủ trương khắc kỷ và khoái lạc, đường lối trung dung là sống cuộc sống điều hòa, không khắc kỷ mà cũng không khoái lạc.

 
Giữa chủ trương hy sinh cá nhân và tự do cá nhân, chúng ta nên theo con đưòng trung dung. Chúng ta yêu tự do cá nhân nhưng cũng phải nghĩ đến gia đình, quốc gia, dân tộc, đôi khi chúng ta có thể hy sinh vì chính nghĩa.

 
“Công tư vẹn cả hai bề”

 
Mọi công cuộc giao thương hay hiệp nghị, hai phe phải dung hòa quyền lợi để đi đến một thỏa ước.

 

6.Trung đạo là kết hợp, là hòa đồng,là đoàn kết.

 
Xã hội luôn có nhiều tầng lớp, nhiều tổ chức, và thiên nhiên luôn có nhiều yếu tố. Chúng ta cần phối hợp các yếu tố khác nhau, đôi khi là các yếu tố mâu thuẫn để đi đến một hòa đồng. Một bức tranh, một bản nhạc chính là một sự hòa hợp các màu sắc, âm thanh để đem lại hạnh phúc cho con người.

 
Cộng sản chủ trương đãu tranh giai cấp, gây chia rẽ quốc gia, chia rẽ gia đình, xã hội và tàn phá thế giới. Chúng ta chủ trương đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, đảng phái. . .Chúng ta thực hiện chủ và thợ cộng tác, bảo đảm quyền lợi của hai bên. Cộng sản phá hoại sự đoàn kết , ta chủ trương đoàn kết. Muốn bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, sự hòa hợp con người, sự thống nhất quốc gia, xây dựng tình thân hữu.. . chúng ta phải chống lại cộng sản. Mọi chủ trương thỏa hiệp với cộng sản, bắt tay với cộng sản là trái đạo đức, trái với tinh thần tự do, dân chủ và đoàn kết. Đừng dùng chủ trương hòa đồng, đoàn kết mà mắc mưu cộng sản. Chúng ta có thể đoàn kết, hòa đồng với mọi người nhưng không bao giờ thỏa hiệp, bắt tay với cộng sản vì cộng sản là bọn gian ác như đã nói ở trước thiện không thể đi với ác.

 
  Trước 1920, tư bản cũng gian tham bóc lột nhưng sau đó họ thay đổi chính sách. Họ biết lo cho đời sống công nhân và dân nghèo. Công nhân được trả lương và làm việc theo qui định của nhà nước . Những quy định của tư bản về mức lương tối thiểu, về giờ giấc làm việc , về thuốc men, đau ốm, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí . . là những điều rất tốt mà chủ nghĩa cộng sản không thể nào có được dù rằng chủ nghĩa tư bản chưa phải là thiên đàng của người nghèo.

 
Tư bản ngày nay đã đi gần trung đạo khi họ đánh thuế người giàu rất cao để giúp đỡ người nghèo trong chính sách an sinh xã hội.

 
Trung đạo là đoàn kêt nhân dân theo tinh thần bình đẳng, nhân ái .

 
Cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp, tôn trọng giai cấp vô sản , ta chủ trương đoàn kết dân tộc thực sự. Thực ra cộng sản dùng chiêu bài tranh đấu giai cấp, giải phóng áp bức, tranh đấu cho quyền lợi vô sản để lừa bịp những người nghèo và những trí thức ngu dại. Sau nửa thế kỷ tranh đấu và cai trị ở Liên Xô, Đông Âu, Trung quốc. . ., cộng sản đã lộ bộ mặt gian ác, xảo trá. Trí thức, tư sản bị tàn sát mà dân nghèo lại nghèo khổ hơn thời phong kiến và thực dân ngoại trừ một số đảng viên cao cấp nay trở thành tư bản đỏ.

 
Đất nước là của chung mọi người, không phải là tài sản của một giai cấp,một đảng nào, một tôn giáo nào, một gia đình nào. Do đó, chúng ta thực hiện đoàn kết toàn dân không phân biệt tuổi tác,giai cấp,giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái như ø hiến pháp mọi quốc gia văn minh trên thế giới. Và đó chính là truyền thống dân tộc :

 
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Trung đạo là con đường đi chánh đáng và tốt đẹp, là con đường đưa đến hòa bình và phát triển. Các nuớc văn minh tây phương đã đi gần con đường chánh đạo cho nên đã đạt được hòa bình và phát triển. Chủ nghĩa cộng sản bất nhân, ngu dốt, đã làm trái nhân tính, trái khoa học, trái thiên nhiên, trái đạo lý cho nên đã suy sụp.
 
Cộng sản hoàn toàn cực đoan. Cộng sản đảo ngược trật tự xã hội, đi ngược với nhân tâm và thiên lý. Cộng sản đã đặt đầu xuống đất, chân lên trời và gọi đó là cách mạng .

 

Cộng sản không theo trung đạo cho nên càng khủng hoảng và tạo nên mâu thuẫn.

 
Trong khi cộng sản chủ trương hy sinh quyền lợi cá nhân cho tập thể, cán bộ cộng sản càng tự do bóc lột, tự do hưởng thụ, tự do kìm kẹp và tàn sát nhân dân.

 
Trong khi cộng sản chủ trương tịch thu tài sản tư sản, bần cùng hóa nhân dân, cấm mọi thứ tự do trong đó có quyền tự do tư hữu thì cộng sản lại lãng phí của công, ăn cắp của công.

 
Trong khi cộng sản tuyên bố giai cấp công nhân làm chủ thì công nhân, nông dân càng ngày càng khốn khổ, bần cùng. . .Càng đè nén , sức phản kháng càng vùng lên mãnh liệt.

 
Sự phản kháng hay phản tác dụng đã nẩy sinh trong tâm lý người cộng sản và trong tâm lý nhân dân.

 
Ngày nay ta đã thấy phản tác dụng nẩy trong người cộng sản . Càng chủ trương vô sản, càng chủ trương tiêu diệt tư sản, càng cấm nhân dân làm giàu thì người cộng sản lại khao khát tài sản, khao khát làm giàu. .. từ đó nẩy sinh ra ăn cắp, hủ hóa, hưởng thụ. . .một cách vô cùng mãnh liệt hơn quân chủ và tư bản.Và sự phản kháng nẩy sinh trong quần chúng tạo ra các cuộc trănh đãu Quỳnh Lưu, Thái bình, Xuân Lộc. .

 
Đàng khác, chúng ta còn thấy chủ nghĩa cộng sản là một sự dối trá, lừa đảo. Thái quá và lừa đảo đã kết hợp với nhau thành chủ nghĩa cộng sản. Bản thân Hồ chí Minh là một kẻ lừa đảo, thủ đoạn. Chính y đã bán Phan Bội Châu cho Pháp, chính y đã giả danh Trần Dân Tiên để quảng cáo cho y. Và chính y đã ra lệnh tàn sát nhân dân. Cộng sản nói một đàng làm một nẻo. Đừng tin những gì cộng sản nói, cộng sản viết. Cộng sản nói tranh đãu cho độc lập thì chính cộng sản đem đất nước lệ thuộc Nga Tàu, và đem quân xâm lược lân bang. . Cộng sản nói tự do thì thực tế cộng sản đày ải dân chúng, tước đoạt mọi thứ tự do của con người, trong khi bọn chúng tự do bóc lột, tự cho giết người, tự do bắt bớ, tra tấn người và tự do hối lộ, tự do xài phí tài sản nhà nước.. .Cộng sản nói hạnh phúc thì chúng hưởng đặc quyền đặc lợi, chúng trở thành một giai cấp mới trong khi nhân dân đói khổ gấp trăm, gấp mười thời quân chủ và thực dân đô hộ. . .

 
Nói tóm lại, đạo đức và trung đạo là hai yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hòa bình và phát triển bản thân, quốc gia và thế giới.

 

(còn tiếp)

 

 

 

CHƯƠNG III:  CON ĐƯỜNG HÒA BÌNH & PHÁT TRIỂN

Đây là một chương trình xây dựng toàn diện, là quốc sách tái thiết đất nước sau thời cộng sản.

 
Công việc rất khó khăn. Cộng sản đã phá hủy toàn diện, chúng ta phải làm lại từ đầu .

 
Mọi vật trong vũ trụ có những mối liên hệ chặt chẽ. Muốn xây dựng đất nước, chúng ta không thể không nhắm xây dựng con người, vì con người là trụ cột của đất nưóc, là phần tử nhỏ nhất nhưng quan-trọng nhất của quốc gia . Và muốn xây dựng quốc gia hòa bình, thịnh vượng,ta không thể không nghĩ đến một mô hình thế giới tốt đẹp, để mọi quốc gia,trong đó có đất nước ta hưởng tự do và hạnh phúc.

 
Do đó, ở đây, chúng tôi đề cập đến phương hướng xây dựng con người, xây dựng quốc gia và xây dựng thế giới.

 

I. XÂY DỰNG BẢN THÂN .
 
Bản thân chúng ta có tốt thì mới hữu ích cho gia đình và xã hội. Con người chính là cơ sở của gia đình và xã hội. Do đó, muốn xây dựng một quốc gia thịnh vưọng,một thế giới hòa bình, chúng ta phải chú trọng giáo dục con người, trau dồi bản thân không ngừng.

 
Các dân tộc Á Đông cổ chú trọng luân lý , đạo đức. Tiêu chuẩn giáo dục và chọn người là tài và đức,không phân biệt tuổi tác, nam nữ, giai cấp, địa phương. Tài là có học, thi đỗ, có kinh nghiệm tốt trong chuyên môn, trong hành động. Đức là có hành vi tốt đối với cha mẹ, anh em,họ hàng.

 
Tư bản chú trọng khoa học kỹ thuật và họ có nhiều phẩm chất cao quý. Trong khi chọn người,tư bản cũng theo tiêu chuẩn tài đức. Tài năng là nói về chuyên môn. Tại các quiốc gia tư bản, muốn hành nghề, dù nghề nào, chúng ta phải học tại trường sở. Còn đạo đức thì họ chú trọng về lý lịch trong sạch,không bị án tích.

 
Cộng sản không chú trọng đạo đức, cộng sản dạy căm thù và chém giết trong khi mọi tôn giáo, mọi nền đạo đức đều khuyên con người làm lành,lánh dữ.

 
Cộng sản chỉ nhồi sọ, dạy ca tụng lãnh đạo, ca tụng đảng, hoan hô mọi chủ trương, chính sách đảng. Họ muốn biến các thanh niên thành những con vẹt, nói thuộc lòng lời lãnh tụ, những con chó trung thành với đảng. Họ tuyển lựa người theo tiêu chuẩn lý lịch, bắt cung khai tam đại, khai trừ con em tư sản, tín đồ các tôn giáo, và khẩu hiệu của họ là hồng hơn chuyên .Họ khai trừ mọi thành phần nhân dân, họ coi dân chúng là kẻ thù. Họ chỉ trọng những đảng viên, tức là những kẻ trung thành mặc dầu đó là những kẻ ngu dốt, gian tham,tàn bạo. Kết quả là đất nước suy vong, nhân dân oán ghét.
 
Mỗi quốc gia, mỗi xã hội có những quan điểm khác nhau về xây dựng con người , và có nhiều điều rất cần thiết cho bản thân, song những điểm sau đây là cần thiết cho mọi người:Đó là tài và đức. Mọi nền giáo dục đều nhắm đào tạo những thế hệ có khả năng chuyên môn cao và có đức hạnh tốt.
Ai cũng muốn con em chúng ta tuổi trẻ học hành đầy đủ, không lêu lỏng rong chơi ngoài đường phố, đến khi lớn lên có một nghề chuyên môn để nuôi thân, để đóng góp vào lợi ích xã hội. Và ai cũng mong muốn con em chúng ta sống một đời lương thiện,không hỗn láo, không gian xảo , không trộm cắp, không rượu chè say sưa, không đam mê cờ bạc, không làm thiệt hại đến tài sản và tánh mạng người khác.

 
Đấy là những nguyện vọng căn bản và thiết tha của những bậc cha mẹ và các nhà giáo dục khắp mọi nơi và mọi thủa . Từ đó, chúng ta thấy nổi bật những yêu cầu sau :

 

1.Giáo dục toàn diện :

 
 Cộng sản chú trọng chính trị, tư bản chú trọng khoa học kỹ thuật, còn xã hội cũ của ta chỉ chú trọng văn chương và đạo đức. Đó là những điều cực đoan, phiếm diện.

 
a. Chúng ta nhắm đào tạo những thế hệ đầy đủ các mặt trí dục, đức dục, thể dục và thẩm mỹ..Chúng ta nhắm đào tạo những con người tài đức song toàn, có một trí tuệ minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh.

 
b. Chúng ta nhắm đào tạo những con ngưòi giỏi khoa học kỹ thuật nhưng cũng có đầy đủ kiến thức cơ bản về văn hóa, nghệ thuật.

 

2.Dung hòa quyền lợi cá nhân và tập thể.

 
Cộng sản chủ trương hy sinh cá nhân cho tập thể trong khi tư bản chủ trương tự do cá nhân. Chúng ta nên dung hòa quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể.

Chúng ta tôn trọng tự do cá nhân và quyền lợi cá nhân trong khi cộng sản hủy diệt chúng. Trong chế độ cộng sản, chỉ có lãnh tụ cao cấp là có quyền tự do rộng, trong đó có quyền bắt giam và chém giết, cùng hưởng mọi tiện nghi trong đời sống. Chúng ta có tự do trong khi tôn trọng quyền lợi của qngười khác. Cá nhân, gia đình và quốc gia có những mối liên hệ chặt chẽ không ai có thể phủ nhận, ngoại trừ cộng sản. Cộng sản đòi hủy bỏ cá nhân cho tập thể nhưng lại mắc bệnh tôn sùng cá nhân lãnh tụ.

Chúng ta yêu bản thân, yêu gia đình nhưng chúng ta cũng phải nghĩ đến bổn phận đối với quốc gia,xã hội bởi vì chúng ta với cộng đồng có những mối tưong quan mật thiết.

 
Trong nhiều trường hợp, quyền lợi riêng không mâu thuẫn với quyền lợi chung. Quyền lợi cá nhân và quyền lợi quốc gia là một. Chúng ta thực hiện cả hai môt cách bình thường, không cần một hy sinh nào .Chúng ta đi học, tốt nghiệp đi làm,kiếm lương tiền để nuôi thân,nuôi cha mẹ, vợ con đó là ta đã phục vụ ta, phục vụ gia đình.Nhưng trong khi làm việc như dạy học, chữa bệnh, nghiên cứu, làm ruộng, xây nhà cửa, sửa chữa xe cộ, máy móc … là ta đã góp công xây dựng xã hội,giúp ích cho đồng bào nếu ta làm việc một cách chăm chỉ và thành thực .

 
Đôi khi ta phải hy sinh cái riêng cho cái chung nhưng đó là trường hợp đặc biệt.

 
Chúng ta không thể an vui khi đất nước tao loạn : Nước mất nhà tan. Muốn cứu nhà,ta phải cứu nưóc. Trong một vài trường hơp cần thiết, chúng ta phải hy sinh bản thân vì lý tưởng . Nhưng sự hy sinh ở đây là tuỳ trường hợp và có mức độ. Những nhà khoa học cặm cụi ngày đêm trong phòng thí nghiệm chính là vì lý tưởng phục vụ nhân loại. Người cha, người mẹ vất vả ngày đêm vì tình phụ tử, tình mẫu tử . Đó là những sự hy sinh cao quý trong cuộc sống hằng ngày trong xã hội. Đó là sự tự nguyện hy sinh khác với sự hy sinh bắt buộc. Cộng sản bắt trẻ con, ông già đi lính và gọi đó là xung phong, chúng xích lính vào xe tăng và gọi đó là hy sinh, bắt dân chúng hết giai đoạn này đến giai đoạn khác đói khổ, chết chóc cho chúng sống xa hoa và cũng gọi đó là hy sinh.

 

 

Mọi sự ép buộc. mọi sự đè nén đều gây nên phản ứng trái ngược trong tâm lý con người và xã hội..Bất bình tắc minh ( Có áp bức là có đấu tranh ) là nguyên tắc chung trong mọi xã hội. Trong xã hội cộng sản , dân chúng đã phản ứng bí mật và công khai, bằng tiêu cực và tích cực.

 
Người dân đã phá họại tài sản HTX, nhà nước, hoặc không tích cực làm việc (Xã hội chủ nghĩa là mười người khiêng một cọng rơm ), và đã nổi dậy như Quỳnh Lưu ( 1956), Thái Bình , Xuân Lộc (1997).

 
Vì đường lối chuyên chính vô sản , hồng hơn chuyên nên cộng sản đã dùng người ngu dốt, kết quả là nền giáo dục suy đồi, đạo đức băng hoại.
Và cũng chính vì chủ trương cộng sản, xoá bỏ tư hữu, xóa bỏ cá nhân , xóa bỏ mọi tự do con người là những quyền lợi cốt thiết của con người cho nên họ đã tạo nên sự mất thăng bằng cho bản thân họ và cho nhân dân. Cấm tư hữu thì nhân dân càng phá hoại hoặc lấy cắp tài sản HTX hoặc tài sản nhà nước, và cán bộ càng ra sức vơ vét ,tham nhũng, chiếm đoạt tài sản nhân dân và tài sản nhà nước. Cấm tự do cá nhân thì cộng sản cao cấp lại càng tự do chiếm đoạt của công, ăn chơi phung phí,không tôn trọng luật lệ , tự do buôn lâu, tự do lường gạt, xâu xé lẫn nhau.

 

 
Các xã hội quân chủ và tư bản đều tôn trọng giá trị giáo dục và bình đẳng cho nên moị người đều sống thoải mái, tích cực tham gia mọi sinh hoạt xã hội ,và đạo tào nhiều nhân tài, nhờ đó mà khoa học ,kỹ thuật ,văn hóa đều phát triển.
 
Nói tóm lại , chúng ta phải xây dựng những con người tài đức song toàn, nghĩa là những người có khả năng chuyên môn cao, có tay nghề giỏi trong mọi ngành mọi giới, và có đạo đức. Chúng ta phải tạo nên những thế hệ yêu tự do, dân chủ nhưng cũng biết gánh vác trách nhiệm đối với gia đình, tổ quốc.

 

3.Dung hòa tự- do và kỷ- luật.

 
Chúng ta phải tôn trọng sự tự do và tự giác, tự nguyện trong giáo dục và trong xã hôi. Mọi sự cưỡng bức đều không có kết quả tốt. Mọi sự nghiêm khắc cũng như mọi sự tự do quá trớn đều là hành vi thái quá, không hợp tinh thần trung đạo.

 
Xã hôi cũ quá khắt khe trong khi xã hội Tây phương quá tự do. Ta phải dung hòa . Chúng ta không nên quá khó khăn, nghiêm khắc cũng như quá dễ dãi. Xã hội ta trước đây bắt thanh thiếu niên học hành quá cực khổ, chương trình nặng nề, trong khi thanh thiếu niên Tây phương ở trung và tiểu học chơi nhiều hơn học. Đường lối này cũng có ưu và khuyết điểm. Ở tiểu và trung học,thanh thiếu niên Á châu học quá nhiều,lại thêm thiếu phương tiện kinh tế , kỹ thuật cũng như thiếu trường lớp,thiếu thầy khiến cho thanh niên ta lên đến đại học là mõn sức, ít ai tiếp tục nghiên cứu,phát minh. Trong khi đó, chủ trương giáo dục tư do, Tây phươngï để trẻ tự do phát triển, tuy học tiểu trung học ít, nhưng lên đại học, họ đã thành công nhiều. Tuy nhiên, đường lối giáo dục tự do và phổ thông này làm cho học sinh trung, tiểu học kém. Nay Canada đang cố gắng nâng cao phẩm chất học sinh bằng cách tăng giờ học,thay đổi chương trình trung tiểu học. Vậy chúng ta phải dung hòa, đặt ra một chương trình giáo dục thích hợp cho các lứa tuổi và các loại thanh thiếu niên và nhi đồng, sao cho học sinh vừa có kỷ luật, vừa được tự do phát triển .

 

II. XÂY DƯNG QUỐC GIA

 

Để xây dựng moôt quốc gia hòa bình, thịnh vượng, chúng ta phải đặt ra những luật lệ rõ ràng và hợp lý.Sau khi đã tiêu diệt cộng sản, chúng ta phải cấp tốc triệu tập một đại hội Diên Hồng gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân để:

 
- Chọn quốc kỳ, quốc ca, quốc huy

 
-Thành lập quốc hội lập hiến.

 
- Xây dựng các cơ cấu dân chủ như quốc hội, thảo thể thức bầu và ứng cử, luật về đảng phái, báo chí.

 
Trong khi xây dựng nền dân chủ mới, chúng ta cần chú trọng những điểm sau:

 

1. Kiện toàn pháp lý

Cộng sản không có pháp luật vì chúng muốn cai trị dân theo ý thích của chúng,  trong khi mọi chính thể quân chủ cũng như dân chủ đều chú trọng đến luật pháp.

 
Chúng ta phải xây dựng một hiến pháp, một nền tảng pháp lý có tính cách công bằng, dân chủ và nhân đạo nhằm phục vụ quyền lợi đất nước, quyền lợi mọi người, mọi giai cấp,đảng phái và tôn giáo.

 
Mục đích của pháp lý là làm căn bản cho mội sinh hoạt quốc gia,bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.

 
Chúng ta phải có đầy đủ những luật lệ về an ninh, chính trị,kinh tế,giáo dục,báo chí,y tế. . .như những quốc gia văn minh trên thế giới.

 
Trong giai đoạn đầu tiên của thời hậu cộng sản, tất nhiên có nhiều sự phát triển ồ ạt và bất quân bình,dễ dàng đưa đến xáo trộn và lạm phát. Chúng ta chủ trương tự do nhưng tự do trong kỷ luật trật tự , trong tinh thần thượng tôn pháp luật. Chúng ta phải có những luật lệ về đảng phái, về báo chí để tránh tình trạng lạm phát đảng phái, lạm phát báo chí như trong những năm 1960 tại Việt Nam.

 
Luật pháp phải có tính cách vô tư. Muốn thế, quốc hội phải thực sự do dân lựa chọn những người có đức độ và có khả năng chuyên môn . Và mục dích làm luật không phải là vì mình hay vì gia đình mình, Đảng phái mình.

 
Khi đã ban luật thì chính nhà nước phải tôn trọng luật. Một khi vị lãnh đạo,hay một nhóm người có quyền lực vi phạm luật lệ mà không bị trừng trị tức là đã gây bất công, gây rối loạn cho quốc gia.

 

2. Xây dựng toàn diện :

 
  Cộng sản phá hoại đất nước, chúng ta phải xây dựng lại từ đầu. Cộng sản chủ trương chiến tranh, gây chết chóc cho bao triệu sinh linh tại đất nước của họ và tại khắp nơi trên thế giới. Vì mục tiêu gây chiến, phá hoại hòa bình thế giới, cộng sản chú trọng phát triển quân sự mà bỏ quên việc phát triển kinh tế và đời sống nhân dân. Cộng sản khắp nơi trên thế giới đều chung một chính sách. Liên Xô, Trung quốc, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Cộng đều bắt dân chúng chịu chết chóc và đói khổ hết giai đoạn này đến giai đọan khác. Chúng ta phải xây dựng toàn diện, nào là giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế, công nghiệp, thương mại, chính trị và luật pháp.

 

3. Dung hòa giai cấp.

 

Cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp và gây ra bao thảm cảnh. Đa số dân nghèo vì mê khẩu hiệu chia ruộng đất,tài sản cho dân nghèo mà theo cộng sản, rút cuộc,dân nghèo lại càng thêm khổ, đem thân làm nô lệ cho cộng sản gian tham tàn ác.

 
Những người thuộc giai tầng trí thức,tư sản vì mê công bằng xã hội, tự cho mình là thông minh tài trí đã chạy theo cộng sản,mà suốt đời trở thành nạn nhân cộng sản.

 
Những người này đã vâng theo thánh kinh cộng sản đã giết hại cha mẹ,anh em,đồng bào. Nhưng rốt cuộc, trong chế độ cộng sản,dân nghèo lại thêm nghèo, chỉ bọn vua quan đỏ là giàu sang phú quý, và đất nước ngày càng đói khổ.

 
Trên mặt lý thuyết, chúng ta thấy chủ trương đấu tranh giai cấp là sai lầm.

 
Cộng sản chú trọng đến phạm trù mâu thuẫn mà bỏ quên phạm trù hòa hợp. Trong xã hội cũng như trong thiên nhiên bao giờ cũng có những sự mâu thuẫn nhưng cũng có những hòa hợp.

 
Mâu thuẫn là khác nhau chứ không có nghĩa là chống lại nhau. Cao,thấp,ngắn dài , ốm mập là những khác biệt củađ ơn vị đo lường. Tay trái và tay phải, ngày và đêm . . . không phải là những sự kiện xung đột nhau.

 
Mâu thuẫn là hòa hợp chứ không phải là chống đối nhau. Cây cối cần nắng và mưa, muôn loài cần sự hòa hợp nam nữ.

 
Xã hội và thiên nhiên là đa dạng. Chúng ta xậy dựng công bình nhưng không có nghĩa là chúng ta đảo lộn trật tự xã hội và tự nhiên, đi trái lòng ngưiời và khoa học kỹ thuật. Nếu năm ngón tay bằng nhau thì chúng ta khó mà cầm nắm được. Chúng ta không thể cưa chân loài cò, con hạc và nối chân con vịt, con gà. Chúng ta không thể bắt con chim xuống nuớc và đem con cá lên non và gọi đó là cải tạo xã hội. Chúng ta không thể đào núi để lấp biển, san bằng ruộng nương cho thành một thể thống nhất.

 
Chúng ta không thể tiêu diệt hết mọi loài hoa và ra lệnh khắp thiên hạ chỉ trồng một thứ hoa. Đừng ra lệnh giết chim vì chim chóc có nhiệm vụ bắt sâu bọ. Đừng ra lệnh giết mèo vì mèo có sứ mạng bắt chuột. Hãy mở con mắt thât rộng để thấy rằng vũ trụ đã an bài, và cơ tạo hóa rất màu nhiệm. Con người học tập thiên nhiên chưa xong mà lại còn hô hào thống trị thiên nhiên,làm chủ thiên nhiên với cái trí của loài sâu bọ!

 
Xã hôi cũng vậy.Có người thông minh tài trí, có kẻ hèn kém đần độn, có ngưới mạnh khỏe, có người ốm đau quanh năm. Cộng sản đã thất bại vì chủ nghĩa bình quân.

 
Chúng ta không theo chủ nghĩa bình quân, chúng ta cũng tránh sự chênh lệch quá đáng trong xã hội. Mỗi người tuỳ khả năng của mình đóng góp cho quốc gia. Xã hội cũng như thiên nhiên là một sự hòa hài kết hợp của nhiều người và vật khác biệt. Người giàu cần người nghèo, người nghèo cần người giàu . Kẻ góp của,người góp công để tạo nên môt quốc gia hòa bình và phát triển. Xã hội tư bản ngày nay rất tiến bộ. Có những công ty chia lợi tức cho công nhân. Công nhân làm việc trong môi trưòng thuân lợi. Chính phủ qui định múc lưong tối thiều, đạt ra quỹ an sinh xã hôi,trợ cấp thất nghiệp, chăm lo thuốc men, chăm lo y tế cho thuyền và gia đình, trong khi chế độ cộng sản Việt Nam ngày nay đã bóc lột, đàn áp công nhân, nông dân và viên chức.

 
Muốn tranh mâu thuẫn giai cấp, nhà nước phải có những quy định bảo đảm quyền lợi cho hai phiá chủ nhân và công nhân. Nhà nước, luật pháp phải công bằng làm trọng tài giải quyết mâu thuẫn giữa chủ và thợ, đồng thời cả hai bên phải giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình, công chính và tương nhượng.

 
Về vấn đề này, chúng ta cần những nhà luật pháp giỏi, nghiên cứu kỹ càng pháp luật,phong tục,tập quán Việt Nam và pháp luật các nước dân chủ Aâu Á để thâu tóm tinh hoa và dung hợp.

 

4. Đoàn kết toàn dân.

 

Một quốc gia chia rẽ,mâu thuẫn sẽ đưa đến diệt vong. Một quốc gia đoàn kết là một quốc gia thái bình, thịnh trị. Chia rẽ thì chết, đoàn kết thì sống .
Chủ trương đấu tranh giai cấp là chủ trương xâu xé, chia rẽ, nội chiến.

 
Chủ trương vô sản quốc tế là chủ trương xóa bỏ quốc gia, đặt đất nước dưới ách thống trị của cường quốc đỏ.

 
Chúng ta chủ trương đoàn kết dân tộc theo chủ trương của tiền nhân :

 
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn .

 
Nhiễu điều phủ lấy gíá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

 
Muốn đạt được đoàn kết dân tộc, các lãnh đạo chính trị, tôn giáo, đoàn thể phải có tinh thần quốc gia, phải công bằng , sáng suốt, đặt quyền lợi quốc gia trên quyền lợi phe phái, Và mội người dân cũng phải ý thức quyền lợi và bổn phận của mình đối với quốc gia, đừng vì tư lợi, đừng nghe dèm pha, xúi bẫy của bọn lưu manh hoạt đầu mà gây nên xáo trộn, làm nguy hại cho hòa bình và phát triển của đất nước. Một khi đất nước lâm nguy thì tai họa sẽ giáng xuống khắp nơi, không phân biệt tôn giáo, tuổi tác, chủng tộc, giai cấp. . .

 

5. Tự do,dân chủ.

 

Mục tiêu của người cách mạng chân chính là đấu tranh cho tự do,dân chủ.

 
Thực dân và cộng sản đã áp búc dân tộc ta. Chúng ta phải tranh đấu đem lại tự do,dân chủ thực sự cho dân chúng.Chúng ta phải đem lại tự do báo chí, tự do tư tưởng, tụ do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do hội họp. Ở buổi đầu tiên, chúng ta phải đặt nền tảng pháp lý, chuẩn bị cho con đường tự do, dân chủ.

 
Các quốc gia Á Đông thường theo chủ trương độc tài. Thiết tưởng sau khi đã lập hiến pháp, đặt luật lệ , một thứ luật lệ công bằng dân chủ, tự do, thì nhà cầm quyền cũng như dân chúng phải hết sức tôn trọng.

 
- Để tránh tình trạng độc tài, chúng ta phải theo đa đảng. Quốc hội phải sáng suốt qui định luật đảng phái, ứng cử, bầu cử. Chúng ta chủ trương tự do, nhưng phải tránh tình trạng xâu xé đảng phái, lạm phát đảng phái. Theo thiển kiến, một nước chỉ nên có hai, ba, hoặc bốn đảng phái là nhiều. Người lãnh tụ của đảng phái phải có tài đức, có thành tích, phải được dân chúng tín nhiệm.

 
- Để tránh tình trạng độc tài, mỗi vị tổng thống chỉ tại nhiệm 5 năm.và tái cử thêm một nhiệm kỳ,tổng cộng là 10 năm. Trong mười năm đó nếu tài giỏi cũng đã giúp ích cho đất nước. Nếu bất tài, chỉ làm cho nhân dân chán chường, đi đến căm thù gây nên xâu xé, xáo trộn cho quốc gia. Đừng dùng khẩu súng bảo vệ ngai vàng. Đừng dùng công an cùm kẹp dân chúng. Đừng sửa đổi luật pháp để tổng thống ngồi thêm vài nhiệm kỳ hoặc ngồi đến chết. Đừng treo ảnh lãnh tụ vì càc vua chúa ngày xưa và các tổng thống dân chủ ngày nay không ai làm thế. Đừng bắt trẻ con phải thức dậy từ sớm tinh mơ đi đón quốc trưởng, tổng thống . Đừng ăn cắp của công, đừng tham nhũng, gian ác hỡi những ai thực sự thương đất nước , yêu dân tộc!

 
Đối lại, người dân phải có kỷ luật tự giác. Sau một thời gian bị kìm hãm, bây giờ được tự do, nhất là lúc quốc gia đương tái lập kỷ cương, sẽ có nhiều xáo trộn, sẽ có nhiều người hiểu lầm chữ tự do, nhiều kẻ lợi dụng nước đục thả câu để làm những việc tai hại cho quốc gia. Những người này trong thời cộng sản thì cúi đầu khom lưng, nhưng đối với một chính quyền nhân đạo lại tỏ ra ngang ngạnh, đòi hỏi quá đáng. Chúng ta phải có tinh thần tự giác,biết đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi cá nhân, biết dung hòa tự do với kỷ luật, và biết tôn trọng lẽ phải. Trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nền tài chánh Á châu suy sụp, dân chúng Nam Hàn đã hy sinh quyền lợi bản thân, đem vàng bạc, tư trang ra bán cho chính phủ để mong cứu vãn kinh tế đất nước. Đó là một tấm gương sáng mà chúng ta phải suy ngẫm nếu chúng ta muốn xây dựng một đất nước hòa bình,thịnh vượng.
Để tạo dựng một nền tảng dân chu, chính phủ lâm thời đứng ra tổ chức bầu cử phải có tinh thần vô tư. Thí sinh không thể làm chủ khảo, do đó chính phủ này phải là một chính phủ lâm thời, không đứng ra tranh cử. Và các cuộc bầu cử tương lai cũng vậy, chính phủ đương quyền không nên đứng ra tổ chức bầu cử. Lập pháp và tư pháp phải phối hợp trong việc tổ chức bầu cử.

 
Quốc hội cũng cần những vị chuyên môn các ngành nghề.Những vị dân biểu không có hiểu biết về y tế ,thương mại thì làm sao biểu quyết những vấn đề y tế,thương mại. Những đaị biểu quốc hội phải có công tâm,phải một lòng vì nước, vì dân

 
Không làm tay sai cho chính quyền cũng không chống đối chính quyền nếu chính quyền đúng.

 
Những dân biểu quốc hội phải có đạo đức, không nên nói năng hung hãn,thô tục, hay đấm đá nhau. Khi tranh cử cũng phải nhã nhặn ,lễ độ, tránh những hành vi, cử chỉ và ngôn ngữ thô bỉ,hung bạo, và tránh những hành vi xão quyệt, gian ác như nói xấu, vu khống, mua chuộc, gây đổ máu. gây chia rẽ hay xáo trộn để trục lợi.

 
Nói tóm lại, chúng ta nên bắt chước xã hội dân chủ tây phương chuyển quyền trong hòa bình theo tinh thần hiến pháp và luật pháp, đồng thời giữ truyền thống Diên Hồng đoàn kết nhất trí , và tinh thần Trần Hưng Đạo vì nước quên nhàđể xây dựng quốc gia .

 

III. XÂY DỰNG HÒA BÌNH THẾ GIỚI.

 

Trước đây, thực dân và phát xít đã nhuộm máu nhân loại. Cộng sản cũng là một loại thực dân đế quốc.

 

 

Cộng sản hô hào xoá bỏ biên cương, chủ trương theo quốc tế vô sản. Cộng sản Việt Nam đã thần phục Liên Xô, Liên Xô xâm chiếm đất đai Trung quốc và chiếm cứ Đông Âu. Trung quốc đe dọa Việt Nam và Ấn Độ , xâm chiếm Tây Tạng. Việt Nam xâm lược Cambodge và Laos. Điều đó cho thấy cộng sản đã theo chủ trương cá lớn nuốt cá bé, họ là những thế lực nguy hại cho hòa bình thế giới.

 
Trước đây tư bản và cộng sản là hai thế lực đối chọi nhau. Một số nước đã theo chủ trương trung lập nhưng thực tế là thiên cộng.

 
Ngày nay, thế giới đã xích lại gần nhau, chúng ta không thể chủ trương bế môn tỏa cảng như thời xưa. Chúng ta phải đoàn kết với nhân dân thế giới,trao đổi ngoại giao với các nước.

 
Để thực hiện mối tương quan quốc tế, chúng ta nên theo những điểm sau :

 

1. Chung sống hòa bình :

 

Có những con người và những quốc gia muốn thống trị thiên ha , chiếm cứ đất đai , hoặc tiêu diệt loài người cho thỏa tham vọng và thú tính của họ.

 
- Là những người yêu chuộng hòa bình, chúng ta phải tôn trọng chủ quyền vàlãnh thổ quốc gia bạn . Nếu có tranh chấp, chúng ta phải giải quyết trong hòa bình và tương nhượng. Thiết tưởng, tổ chức Liên Hiệp quốc phải đứng ra giải quyết vấn đề này, và đặt nền tảng cho việc sống chung hòa bình và cơ sở pháp lý cho tranh chấp quốc tế.

 

- Chúng ta đồng tâm hiệp lực cải thiện đời sống của nước ta và nước bạn, trao đổi thương mại, kỹ thuật. Chúng ta phải thực hiện nhiều công tác liên quan đến nhiều quốc gia như y tế , an ninh, bảo vệ môi trường. ,chống nạn buôn người, nạn buôn bán bạch phiến, buôn bán vũ khí.. .

 
- Việc viện trợ phải đặt trên căn bản tình thương và hòa bình,không phải là cơ hội lợi dụng, bóc lột.

 
- Tránh việc can thiệp nội bộ nước ngoài để chi phối có lợi.

 

2. Bình đẳng,bình quyền :

 

Tạo hóa sinh ra mỗi người đều bình đẳng. Chúng ta phải thực hiện bình đẳng, bình quyền trong đời sống nhân dân. Trong nước, nhân dân là tối thượng. Các đảng phái, tôn giáo hay các cơ quan, đòan thể đều phải có mục đích phục vụ nhân dân. Cộng sản nói bình đẳng , cán bộ là ”đầy tớ nhân dân”, sự thực thì cộng sản bóc lột đàn áp nhân dân còn hơn thực dân và phát xít. Còn đối với đàn anh Liên Xô, Trung quốc thì hết lòng thần phục. Cộng sản thực ra cũng là một bọn đế quốc, mượn danh giải phóng để xâm chiếm đất đai và bắt các dân tộc khác làm nô lệ mình. Muốn hòa bình troing một quốc gia, chúng ta phải thủ tiêu sự độc quyền của một giai cấp hay một nhóm nào. Muốn thực hiện hòa bình trong thế giới, phải triệt tiêu tinh thần bá quyền nước lớn và lòng tham muốn xâm chiếm lãnh thổ nước người. Lịch sử cho thấy không đảng phái nào, cá nhân nào, tập đoàn nào thống trị đất nước lâu dài. Càng tàn ác thì càng sớm bị nhân dân lật đổ. Và trên thế giới, không nưóc nào giữ quyền bá chủ mãi mãi.

 

3. Đao lý

 

 Trong mối bang giao quốctế, mỗi thành viên Liên HIệp Quốc,nhất là các cường quốc phải tôn trọng tính chất đạo đức con người, tôn trọng những văn bản đã ký kết, và những luật lệ đã thỏa thuận, triệt tiêu tình thần bá chủ, khuynh đảo Liên HIệp quốc, ho8ạc dùng những thủ đoạn xấu xa hay ngang nhiên dùng vũ lực xâm chiếm các quốc gia khác.

 
- Nhiều nước đã mang tội diệt chủng và xâm lăng nước người. Kẻ thắng trận thường bắt kẻ bại trân ký những hiệp ước bất bình đẳng.

 
- Nhiều nước thiếu thành tín, thường dùng thủ đọam bắt bí, khủng bố hay lường gạt. Nhiều nước lớn đã lợi dụng các quốc gia khác, coi họ như con cờ trong tay, sẵn sàng hy sinh khi cần thiết.

 
- Nhiều quốc gia nhân danh tự do, dân chủ kết tội nưốc này, nước nọ, nhưng đối với những tội to lớn của các nước lớn thì im lặng. Đó là do sợ hãi, hoặc thiên vị, hoặc lợi lộc.

 

4. Cải tiến tổ chức Liên Hiệp quốc:

 

Sau đệ nhất thế chiến, người ta đã có sáng kiến tốt là lập một cơ quan quốc tế là Liên Hiệp quốc. Song tổ chức này cũng có nhiều khuyết điểm :

 
- Tổ chức này đã bị các cường quốc chi phối.

 
- Không hoạt động hữu hiệu.

 
- Tổ chức này này đã lỗi thời. Nên hủy bỏ đặc quyền của một số nước lớn.

 
Nước Nga và Trung quốc ngày nay đã khác, trong khi Nhật bản, Đức trở thành những cường quốc kinh tế.

 


 

Nói tóm lại,muốn thế giới hòa bình và phát triển, chúng ta phải thành thật chung sống hòa bình, dung hòa quyền lợi nước lớn với nước nhỏ,nước giàu với nước nghèo.

 
Muốn đi đến hòa bình và thịnh vượng cho bản thân, quốc gia và nhân loại, chúng ta phải :

 
1. Trau dồi tài năng và đức hạnh, dung hòa quyền lợi cá nhân và tập thể

 
2. Tôn trọng nhân quyền ,yêu tự do., dân chủ, dung hòa quyền lợi giai cấp, đoàn kết toàn dân, xây dựng quốc gia phát triển toàn diện.

 
3. Đoàn kết với mọi quốc gia trên thế giới, dung hòa quyền lợi quốc gia và quốc tế.
 
 
  
Ottawa ngày 9 tháng 7 năm 1998
Nguyễn Thiên Thụ

 

THE PATH TO PEACE AND DEVELOPMENT Tháng Sáu 27, 2008

THE PATH TO PEACE AND DEVELOPMENT

Vietnamese author: Thu Thien Nguyen
Translated in English: John Nguyen

CHAPTER I.
COMMUNISM.

During more than one hundred years, there are many great events in the world. Although they are explained by different reasons, people have the same ambition and the same aggression to make war. This results in two World War I and II. Among warlike groups, we have to count groups of Communists, of Fascists and of Imperialists. Imperialists and Fascists have the same purpose with different names. They are all invaders. They all use military force to invade other countries and force others to be slaved for them. Today, fascism and imperialism have gone. Communism has almost been destroyed in the world except some countries. One day, communism will come to an end because people of China, Vietnam, North of Korea, Cuba … have struggled against Communists in order to gain freedom and democracy. Today, our most worry is communism catastrophe. We have to fight intensively for human rights in communism countries. As a result, people in such countries will enjoy freedom and democracy in the beginning of new century. Communism has full of errors in theory and in practice.
1). Historical point of view:
a. Communists insist that human will go linearly, the new one will overcome the old one. But in history, we go up and down with success and failure, the new one sometimes does not defeat the old one.
b. Communists believe that history certainly began by the Primary Communism in the old days, followed by feudalism, capitalism and communism respectively. But now, we see many tribes living under poor condition, many countries still go on with the monarchy. Long time ago, Communists said that Capitalism would die but it still lives until now and communism countries have to get aids in many aspects from capitalism countries.
c. Communists insistently say that communism society is ideal, is the top of the world. However, by dialectic materialism, they say that society always changes. It goes from the bad to the good one, goes linearly. They declare that future will negate the past! It is contradiction. We wonder whether or not human society will develop and change. If society changes, communist society sooner or later will be gone. Which society will be the next one? What is the reason for Communists are proud of if the communism society is finally destroyed?
2). Reality:
Communism is defeated days after days by their weak points:
a. Dictatorial, barbarous and dishonest. Russia, China, North of Korea, Vietnam, Cambodia are governed by only one Communist party. They use cruel means to attain power. – They kill each other because of power: For example, Stalin killed Trotsky, Mao Trach Dong killed Lam Buu and Luu Thieu Ky. These are due to their inhuman and uncivilized nature. These also result from the loss of freedom, peaceful commutation of political power and lawful basis. The one who controls wants to maintain power and has a doubt about others. – They murder innocent people: Cruelty and dictatorship are their nature because of proletariat absolutism. This purpose does not forgive and does not tolerate the opposite group. They fight for their power. They seize and kill innocent people without any guilty evidence. They do not need the court. They want to kill unintentionally rather than miss any opposite people. Communists in almost communism countries are convicted of race extermination. Stalin in Russia killed millions of people and banish millions of people to Siberia- a very cold land. Mao Tse–tung in China murdered millions of Communist Party members and normal people in land reform and culture reform. HoChiMinh in Vietnam shed blood approximately one million of people including revolutionists, religious leaders and innocent people in the August Revolution and in New Year 1968. Pol Pot in Cambodia killed nearly two millions people.
b. Making war. – Communists support war. They devote all resources to make weapons. They reserve a great budget for military force. They sacrifice young soldiers in battles. They do not care about people live. – Communists, with their purpose of liberating people and proletariat internationalism, carry the war to many countries in the world, especially in Asia and Africa. Russia invades East of Europe and China. China conquers Tibet. Vietnam attacks Cambodia.
c. Failure in government policy. Communists are proud of their smart Party. But in reality, the Communist Party is dictatorial, dishonest and undemocratic. The Communist Party maintains a unique political power. Government, Parliament, Justice are just games to deceive people. Finally, the Communist Party gets repeated failure. If Party President is smart, why do people show hatred to him? Why do people in East of Europe and Russia overthrow the Communist Party? Their failures reveal that they are wrong to apply “proletariat absolutism”, and promote stupid and immoral person to lead the country. Indeed, the Communist Party is just a group of stupid and savage flatterers led by the most savage and the most cheating guy. If they succeed, they say the leader is talent. If they get defeated, only individual is responsible for that failure. d. Economic failure: Communists believe that society progresses linearly. Feudalism society is better than the Primary society in the old days. Capitalism society makes more progress than Feudalism society. And according to them, Communism society will make progress five to ten times more than Capitalism society. In reality, Marxism-Leninism is wrong. – Communism is dictatorial and savage. Therefore, people protest them officially and silently. – Communists favor people who obey them. As a result, they are not supported by intellectual class. They exploit people, so people do not work and do not support Communists actively in all policies, especially in production aspect. -When Communists did not gain the power to lead the country, they promise that people only need to work 8 hours a day and distribute field land to farmers. But when they hold the government, they betray people. They force people work day and night. Communism exploits people more than Feudalism does. In summary, wherever there exists Communism, there exists terrorism, bloody repression, poor economics, poor education, poor health services, no freedom, no democracy. Therefore, Communism is a disaster to mankind. We must destroy the Communism to go on the way to peace and development.

CHAPTER II.
GUIDING PRINCIPLES.

Our purposes are peace and development. First, we try to make peace in our mind, i.e. no hatred, no grief. Further, we have to make peace to our homeland. Peace means no war, no disturbance, safe lives. And eventually, we hope people all over the world to live safely, to have a good job, to avoid bloody war. Development is making progress. Today is better than yesterday. We try to develop our health, our mind days after days. We try to develop science, techniques, economics, business, politics, education, etc. to make our country prosperous and happy. Many countries develop together will make the whole world in progress. There are many ways to gain peace and development, but there is one best way to do it: it is the standard and right way that we will discuss in details later. Many persons use violence to solve conflicts. Many persons use cheating acts to develop in power, in territory, etc. They are war-makers, expansionists, invaders under deceiving purposes such as civilization propagation, people and world revolution, etc. There are always two opposite groups everywhere on the world. One is the good, the other is the evil. In society, there are persons who seize other properties, who kill innocent people barbarously. If the good wins, our mind will be relaxed, our country will become prosperous and the world will become peaceful. If the evil overcomes, we will be ambitious, aggressive, and fanatic; our country will be at war and the world will be threatened. All things considered, we should follow these guiding principles to achieve peace and development for us and for everybody in the world:

I. Morality:
Morality is principles of good behaviors that better human-to-human relations. Communists banish the conventional morality because this will prevent their inhuman and cheating acts. Marx, Engels, Lenin do not care about morality. Communists juniors invent a new bible, that calls communism morality including hatred, murders, Communist Party and President veneration. Therefore, Communism society is savage, deceitful, unequal, and corrupt. Western society has quite a lot of good men such as Abraham Lincoln, Martin Luther King. Many persons think that politics and even medicine and religion need artifices and tricks. It is true if there are evil men. There are a lot of good and successful politicians. If we do politics to serve our countrymen and our mankind, we should choose the good and moral way to do it. If we do not choose the amnesty way to do it, we will be convicted forever. Politics without conscience is a disaster. Therefore, only the very good behavioral politician can make the nation and the world becomes peaceful and developed. If we do politics in cruel, heterodox, crafty, and ambitious ways, we maybe succeed rapidly but temporarily. We will do harm to others. If we sow the wind, we will reap the whirlwind. There are many moral criteria. These followings are fundamentals in humanism society: 1.Equality. If we want to live in peace with others, we have to respect their individual rights, their living rights and their freedom. Everyone has equal rights, equal opportunities because we are born equally. Finally, we have to concern for law, justice, and constitution. 2.Humanity. In almost religions, we are considered to be friends because we are all human. With humanity and charity, we will serve our country, our mankind very well. Otherwise, we do harm to society. Communists are dictators, cruel men, and terrorists. They mal- treat their people. Therefore, we struggle against them to get freedom, human rights, equality, love and no hatred to everyone. We are not angels. But at least we have to be honest and just to struggle for our people and our country. Humanity is a kind of love. There are many kinds of love. Communists force people to deny love and sacrifice to the Communist Party. They do not tolerate sexual love and family love. They favor no home, no homeland. Contrarily, we love all. We love our family, our country, our mankind and nature. With these noble loves above, we struggle against dictatorship, Communist Party leadership. We strive our best for prosperity and development of our country and our mankind.
II. Happy medium way:
Happy medium way is the standard, good way. We follow justice. We show goodwill to everyone. We do not cause harm to ourselves and to others. The happy medium way is not neutral between evil way and goodwill. It is a straight way. It does not support extremism. Communists favor extremism. They reverse the social hierarchy. They are opposite to human desires and natural tendencies. They call these stupid reversals “revolution”. Because of extremism, Communists place our country in disaster. They are tempted to eradicate capitalists. They want to nationalize all the individual properties. But indeed, this is the chance for them to become rich in spite of the poverty of people. They sacrifice individuals. They put their Communist Party’s benefits above all. Communism officers take advantage of this benefit very clever. They favor themselves because they represent the power. They ignore the destiny of the country and people’ sufferings. The happy medium way is to unite our people equally and charitably. Communists favor struggle against social classes. Contrarily, we favor people united. Our country is the property of everyone. It does not belong to any one class, any one religion, any one party and any one family. We perform people’s union without the discrimination of age, of class, of religion and of party indicated in the constitution of all civilized nations in the world. This is our tradition.
In conclusion, the medium way is certainly the way to peace and development for individual, for the nation and for mankind.

CHAPTER III
THE PATH TO PEACE AND DEVELOPMENT

This is a comprehensively national program to rebuild our country after the death of the Communism. This task is very difficult. Communists ruined everything. We have to start over. Everything in the world is related closely to each other. In order to rebuild our country, we have to aim at educating people because everyone is a necessarily building block. Besides, we have to think about a good world model in which all the nations will enjoy the freedom and happiness. Consequently, here we concern the useful plan for people, for country and for the world.
I. INDIVIDUAL EDUCATION:
If everyone is good, we will be useful because everyone is a building block for our family and our society. Therefore, we have to be interested in continuous education and improvement for individuals to make the country prosperous and the world peaceful. Asian people in the old days preserved morality. Criteria for education and selection of people are skills and good behaviors without discriminations of age, sex, class, and living regions. Skills are learning and/or professional experiences, qualified degrees, good management, etc. People who treat very well to their parents, to their brothers and sisters, to their relatives, etc., for example, are considered to have good behaviors. Capitalists concern science and technology. They have many good qualities. They also base on above criteria of skills and good behaviors to select people. Everyone has to study before doing his/her jobs. Everyone should have clear identification. Communists are not interested in morality. They teach people hatred and murder. On the contrary, all religions and all kinds of morality favor the goodwill and do not do the evil. Communists want to brainwash everyone into Communist Party fanaticism. They force everyone obey all their policies blindly. They want everyone to learn by heart all the deceiving words of the Communist Party leader. They force everyone keep faithful to them absolutely like the dog with the dog owner. They select people by the identifications in three consecutive generations. They deny people related to Capitalists, and to religion. Their slogan is ” faithfulness better than ability “. They consider people as their enemies. They favor their members even though their obedient members are stupid, shifty, and wicket. As a result, the country declines and the people protest very strongly against them. Every nation and every society have different points of view about people training but they have the same requirements on skills and good morality. Everybody wants his/her son(s)/daughter(s) to study well in order to get a good job later and to contribute to society. Parents also want their young generations to live in an honest life and not to harm others. Therefore, these followings are imminent:
1). Comprehensive education: Communism is interested in politics, Capitalism concerns science and technology, and our old feudalism favors literatures and morality. These are just unilateral. a. We will train our young generation to become good in all aspects such as mentality, morality and health. b. We will educate people to be skillful in science and technology, and to know basically art and culture. 2). Respect the benefit of both individual and community: Communists support individual sacrifice for community. Capitalists favor individual. We should respect both individual and community. – We have individual right. We do not interfere with the right of anyone else. – We love ourselves and love our family. But we should be responsible for our country and our society. In many cases, individual benefits do not conflict with society benefits. We do both normally without any sacrifices. For example, while we are doing our works such as to repair out-of-order vehicles, to save lives of patients, to teach students, to do research, to do farm works, we earn salary to get on living and serve our country and our people provided that we work hard and honestly. In some special cases, we have to favor the common interests. If our country is threatened, we can not live safe and sound. We sometimes devote our lives to ideal purposes such as responsible scientists, conscientious doctors, loving – child parents. These sacrifices are voluntary. Contrarily, Communists force people sacrifice for them. They force many young soldiers to be targets on the battle. They disregard to the starvation and poverty of people and continue to live luxuriously and dissolutely. In Communism society, people protest Communists silently or officially, actively or passively. People vandalize the common properties. People do not work voluntarily. People struggle against them in Quynh Luu (1956), Thai Binh , Xuan Loc (1997) in Vietnam. Because of the slogan “faithfulness better than ability” and proletariat absolutism, Communists make education and morality declined considerably. Communism prevents individual possession. People vandalize or steal the common properties more. Communist officers corrupt and abuse authority more. Capitalism and Monarchical societies respect both morality and ability. Therefore, everyone lives happily. Their society and economics develop increasingly. 3.) Harmonize freedom with discipline: We respect freedom. We favor apperception. Strict discipline and heavy punishment are not the Happy Medium Way. Our previous society force pupils study very hard in secondary and high school. Only a few of pupils can enter University because of the lack of teachers and learning facilities, etc. In western country, teenagers are not forced to study very hard. In university, they have a chance to get more successes. Therefore, we have to plan an education so that everyone can develop the ability freely in appropriate discipline.

II. REBUILD THE COUNTRY:
After the death of the Communism, we have to hold the conference with many different representatives for every class to: – Choose national flag and anthem. – Organize Parliament to make constitution. – Construct democratic fundamentals such as Parliament, voting campaigns, regulations for Parties, Organizations, the press… While constructing the new democracy, we concern the followings:
1). Perfect the law basis:
Our law basis should be appropriate, equal, democratic and human to serve the common interests of our country, our people, of every Party and of every religion. Our law is to protect our country, and our people. Our law must be comprehensive in politics, in economics, in education, in publication, in health … like other developed countries in the world. In the post – communism period, we may have inflation and disturbances. We have to plan clear and full regulations to avoid these problems such as the inflation of parties and the press in 1960 in Vietnam. Parliament should be people – elected. Everyone including authority persons is equal before law.
2). Construct in every aspect: Communists concern military force rather than economics. Communists in Russia, China, Cuba, North of Korea, Vietnam invade other countries in spite of the poverty and declined economics in their own countries. We have to build everything, especially education, science and technology, politics, law, etc.
3). Harmonize classes: Communists favor struggle between classes. Many people in poor class, in intellectual class, and in capital class are persuaded to follow this cheating struggle. These people killed their parents, their brothers and sisters, and other non-communist class. And eventually, all people are betrayed. In communism, the poor are getting poorer and poorer while the Communism capitalists and political power men are getting richer and richer. In theory, we see that class struggle is wrong absolutely. Communists favor concept of conflict and neglect concept of union. Conflicts are varieties, for example, high versus low, right versus left, thin versus thick, day versus night, male versus female, sunshine versus rain, etc. Conflicts are not negations. Everything may have conflicts but these conflicts contribute to the varieties. These conflicts unite together like trees need sunshine and rain; like our long and short five fingers; like our sexual partners: male and female. Communists reverse the order and hierarchy of nature and society and call them “revolution”. They should not command to kill all kinds and retain only one kind of flowers. They should not kill all the birds because birds eat worms. They should not control the nature with the little mind. In society, there are varieties of person: talent versus normal, healthy versus ill, etc. Communists fail to average out all things. We do not do average out. We do not favor the great difference. Everyone contributes to the country by his/her own ability. Nowadays, capitalism countries develop very well. Workers and their family get benefit in health, in welfare, etc. To avoid class struggle, we should have clear and full regulations and law for employers and employees. These laws and regulations will be done by well – experienced lawyers.
4.) Unite people: We must follow the saying: United we stand, divided we fall. According to Communists, Proletariat internationalism is to eradicate nation and govern the whole world in sorrowful, dictatorial and bloody communism. In order to unit our people, our President and political party leaders should be smart, just and should concern the country interests above all.
5). Freedom and democracy: We should have freedom and democracy of the Press, of thoughts, of religions, of travels, of meetings, etc. We should have law basis to prepare to the way of freedom and democracy. To avoid dictatorship, we should follow multi – parties. Parliament should consider carefully party regulation and voting campaigns. We should not have so much parties to avoid party inflation. Maybe four parties are enough. Party leaders should gain the confidence of the public. The Presidency should be in five years and may repeat once if that President is elected again. We do not use military force or police to protect the Presidency. The President should not corrupt, abuse authority, and be honest. In turn, people should behave disciplinarily and consciously to serve the country. We should not abuse freedom. We should concern the common interests higher than individual benefits. People in South of Korea sell their valuables to save their economic crisis. This is a good example for us. The temporary government in the beginning should organize voting campaign and should not be the candidate. In future, current government should not control voting campaigns. Legislation and justice should be concerned in elections. Parliament should include representatives who are well – mastered the fields they take care of. These representatives should have good behaviors, justice, etc. to take care people and the country.

III. MAKE PEACE FOR THE WORLD:
Communism, Fascism, and Imperialism make the world in bloody war. Vietnamese Communists follow Russia. Russia invades China and East of Europe. China threatens Vietnam and India. Vietnam attacks Cambodia and Laos. These are disasters for the world. Therefore, we should concern the followings to better international relationships: 1). Living together peacefully: There are people and countries that want to control other countries and kill innocent people barbarously. – We should respect the territory of other nations. If there exist any problems, the United Nations Organization should solve them peacefully on internationally lawful basis. – We have to unite to better our country and other countries in every aspect such as business, health services, science and technology, environment, etc. People trade, forbidden drugs trade and weapon trade are prohibited. – The aids from other countries should base on human principles. – We do not interfere the internal affairs of other countries to get benefits from them. 2.) Equality: Everyone is born equally. We should not feel inferior to stronger countries. Vietnamese Communists force our country to depend on Russia and China. Everything has time to go. No country can control the whole world forever. The world will fight against all new invasion powers. 3.) Morality: We have to base on morality in international affairs. We should avoid these followings: – Many countries are convicted of people extermination and force defeated countries to sign unequal treaty. – Many greater countries sacrifice smaller countries. – Many countries convict loudly other countries not perform human rights. But these countries are silent before the invasions of greater countries to the convicted ones because they are afraid of loosing the big profits from the strong countries. 4.) Improve the United Nations Organization: It has more or less weaknesses: – It is influenced by strong countries. – It does not work effectively. – It is out – of – date. Special rights for strong countries should be terminated. Russia and China today are different than they were before while Japan and Germany are strong in economics. Written in Ottawa, July 9th 1998, Thu Thien Nguyen. -

 

Áo Em Cài Hoa Trắng Tháng Sáu 27, 2008

Áo Em Cài Hoa Trắng

Võ Hồng

Tôi được đi học chậm hơn mọi đứa trẻ khác .Sáu tuổi mà vẫn chưa ôm sách tới trường .Nguyên do vì má tôi đau bệnh dai dẳng, má không muốn tôi sống xa cách, dù mỗi ngày chỉ bốn năm giờ đồng hồ .Khi má tôi phát bệnh thì bác sĩ đã cho ba tôi biết là má tôi sẽ không sống lâu thêm được quá hai năm .Má không được nghe điều đó nhưng tự xét sức khoẻ của mình, má biết là con đường đi của má không còn dài lắm .Mặc kệ những lời trấn an liên tiếp của ba tôi, má giữ một thái độ cam chịu và chờ đợi .

Thấy tôi cứ lêu bêu quấn quít cạnh mẹ, ba tôi có lần gắt:

– Em phải để cho con nó học chớ .Bằng tuổi nó người ta đã vào lớp tư rồi .Trẻ con lên bốn tuổi, người ta đã cho vào ấu trĩ viên để chúng vừa chơi vừa học .

–Học sớm hay muộn gì rồi cũng sẽ đến đích một lượt .Đứa bốn tuổi học một năm bằng đứa năm tuổi học sáu tháng .Đứa năm tuổi học sáu tháng bằng đứa sáu tuổi học ba tháng .

–Anh biết rõ điều đó .Nhưng nó đã sáu tuổi rồi mà chưa đi học được tháng nào .

–Thôi, để em dạy con .

Má tôi gom những miếng bìa cứng, cắt thành từng mảnh vuông to bằng bàn tay .Má vẽ lên đó những cái vòng tròn, những cái hình mà má gọi là lưỡi câu , cái gáo, con cá .Má chỉ cái vòng tròn và bắt tôi gọi bằng O, cái lưỡi câu bằng i, cái gáo bằng q, con cá bằng e .Lưỡi câu là cái tôi không hề biết nên tôi hỏi lại :

–Lưỡi câu là cái gì vậy má ?

Má tôi ngạc nhiên bởi câu hỏi .Má nhìn tôi giây lâu rồi đưa bàn tay mềm mại vỗ lên đầu tôi .Má nói :

–Ờ !Con chưa biết cái lưỡi câu .Đó là mô.t cái kim nhọn bẻ cong lại, nơi đầu người ta móc một con mồi vào .

–Con mồi là con gì, má ?

–Là con trùn, con dế hoặc nhiều khi là miếng bánh, miếng cơm, những món mà con cá nó thích ăn .

–Móc con mồi vô cái kim chi vậy ?

–Để đem thả xuống nước .Con cá thấy mồi, mừng quá, lật đật bơi lại táp .Miệng cá dính vào cái kim, người ta giật lên, cá không chạy trốn được, người ta bắt nó .

Tôi chỉ nhìn xuống hình vẽ con cá trên một mảnh bìa cứng (chữ e của má tôi đó) hỏi lại má tôi :

–Người ta bắt con cá này phải không má ?

Má tôi mỉm cười, gật đầu .Tôi lại hỏi:

–Má có đi bắt những con cá bằng cái kim uốn cong như vậy không ?

–Có .Hồi nhỏ má có đi bắt như vậy .Người ta gọi là đi câu .

–Sao má không cho con đi bắt ?

–Khi nào rảnh, vào ngày chủ nhật hay ngày lễ, ba con sẽ dẫn con đi câu một lần .

Tôi lắc đầu:

–Không, con muốn má dẫn con đi .Con không muốn ba dẫn .

–Má bệnh, má đâu có đi được ?

–Thì hôm nào má mạnh má dẫn con đi .

Má tôi “ừ” và lặng lẽ nhìn tôi .Một lát, thấy từ nơi khoé mắt của má có hai giọt nước mắt chầm chậm ứa ra, lăn dài chạy xuống cằm .Tôi không hiểu tại sao điều tôi yêu cầu có thể làm má tôi buồn như vậy .Sau này lớn lên, ngồi nhớ lại tôi mới hiểu .Một người đã đoán biết được ngày chết gần kề của mình mà phải hứa với con một điều mình biết chắc không thể nào thực hiện được !Không những không thực hiện được việc dẫn con đi câu cá, cả đến việc được ngồi cạnh con trước những tấm bìa cứng này cũng không còn kéo dài được bao lâu nữa .

Tôi học không được bao nhiêu chữ .Bởi ngồi với tôi chừng một lát thì má phải nằm nghỉ .Tôi sung sướng nằm theo, cạnh má, tay cầm xấp “bài học” xếp xếp như người ta đánh bài .Tôi nói với má:

–Nằm học khoẻ hơn, má há ?

–Ừ .

–Sao ở trường học họ không cho học trò nằm ngửa mà học ?

–Nằm ngửa ra, tụi nó ngủ quên hết .

Tôi gật đầu, ờ ờ .

Dù khi tôi ngồi cạnh hay nằm cạnh, má cũng hay lấy bàn tay rờ đầu tôi, vuốt ve lên má, lên cằm, lên tai tôi .Dường như để xác định rằng tôi có hiện diện đó thực, tôi, vật quí báu nhất do má tạo ra và má sắp bỏ lại trên cõi trần này .

Ba tôi bắt gặp mấy lần lối học “nằm ngửa” này của tôi .Ông kiểm soát lại xem có chữ nào còn sót lại trong khối óc ưa nằm ngửa đó không và rõ ràng là một tư thế như vậy làm cho mọi chữ nghĩa đều trôi tuột đâu hết .Ông nghiêm sắc mặt bảo tôi:

–Ngồi dậy mà học .

Tôi líu ríu ngồi dậy .

–Lại nơi bàn mà học .

Tôi líu ríu đi lại bàn .

–Sắp lên bảy tuổi rồi mà học chưa hết hăm bốn chữ cái .Bằng tuổi mày, người ta đều học lớp tư .

Má không phân biệt cho tôi chữ nào đực, chữ nào cái .

Tôi đoán chữ i, chữ t gầy gò là đực , chữ o, chữ a mập mạp là chữ cái .

Thường thì tôi nghe lời ba tôi lại bàn ngồi ngay ngắn, nhìn xuống mặt chữ và lẩm nhẩm gọi tên nó .Má tôi im lặng để nhường tiếng nói cho ba tôi .

Một hôm tôi ngoan ngoãn nghe lời ba líu ríu lại bàn thì má tôi cất tiếng :

–Thôi, cho con đi chơi .

Tôi không biết nên nghe lời ai .Nghe lời má thì tôi sướng quá rồi, nhưng ba tôi còn đứng đó .Mà ba tôi thì không nghiêm khắc nhưng ông biết bắt người ta vâng lời .Tôi biểu lộ sự lưỡng lự bằng cách vẫn đi bước tới nhưng bước chậm lại .

Má tôi giục :

–Con chạy ra ngoài chơi đi con .

Tiếng ba tôi:

–Thôi, cho con đi chơi .

Tôi nghe lời ba, đi rẽ ra phía hành lang .Vừa bước ra khỏi phòng thì nghe tiếng nói của má tôi:

–Anh đừng làm cho con sợ .

–Anh không muốn vậy, nhưng phàm uốn tre thì phải uốn khi nó còn là măng .Anh tập cho con biết nghe lời phải .

–Phải uốn dịu dàng!…Em biết là em quấy khi giam giữ con ở cạnh mình mà không chịu rời nó ra cho nó đi học .Nhưng anh ơi, em đâu có còn sống được nhiều ngày tháng ?Bác sĩ nói với anh là bệnh em sẽ chữa khỏi .Anh đừng tin .Em biết sức khoẻ của em mà .Vì vậy mà em muốn sống quây quần bên cạnh con những ngày chót của đời em .

Tiếng má tôi khóc nấc lên làm tôi bàng hoàng .Tôi đi trở ngược lại và qua khung cửa mở, tôi thấy ba tôi cầm tay má tôi .Má tôi lấy khăn lau nước mắt:

–Con nó nhút nhát vì từ nhỏ đến giờ nó chỉ sống cạnh em .Gần như không tiếp xúc với những trẻ con khác .Vậy anh đừng làm cho con sợ .Anh phải thương con bằng tình thương của anh và thay em mà thương con bằng tình thương của người mẹ .Bổn phận thứ hai nặng hơn bổn phận thứ nhất .

Má tôi ngậm một chéo khăn mù-soa như để ngăn chận tiếng nấc .

Những tấm bìa cứng tỏ ra bất tiện mỗi khi tôi muốn nhìn lại gương mặt của một chữ .Cứ lật lên, bỏ xuống, loay hoay kiếm hoài .Đôi khi miếng bìa mang chữ cái tôi muốn kiếm lại không nằm trong “bộ bài” đó mà nằm lạc ở một nơi nào khác .Ngày nào cũng có dịp để lục tứ tung mền gối với mục đích tìm chữ .Rất tốn thì giờ .Bởi vì kiếm chữ thì không ra mà lại gặp toàn những thứ mình không định kiếm .Chẳng hạn hòn bi .Rõ ràng là hôm kia tôi ngồi bắn bi một mình ở ngoài mái hiên, thế mà buổi chiều ra mái hiên để tìm bắn tiếp thì một hòn biến đâu mất .Chạy kiếm sáng con mắt, chẳng chỗ nào có .Má tôi đưa hai đồng sai chị bếp ra hiệu sách mua cho tôi hòn bi khác .Bây giờ khi tìm chữ mà học thì lại thấy hòn bi đó nằm dưới tấm “ra” .Chẳng hạn tìm thấy cái móc tai .Hôm qua ba tôi ngứa tai, tìm cái móc tai nhưng không thấy, ông la vang cả nhà .Bây giờ không tìm thì nó lại nằm tô hô ra đó .Nhưng tôi không chịu nhặt đem đi cất ngay để trưa về đưa cho ba đâu .Tôi phải dùng nó để móc tai tôi cái đã .Công việc đó làm tôi say mê và khi tôi chịu rời nó ra thì bên phòng ăn đã nghe tiếng muổng nĩa rổn rảng .

Má tôi nhận thấy sự bất tiện của phương pháp học bài trên bìa cứng nên một hôm đưa tiền cho chị bếp sai ra hiệu sách mua cho tôi một cuốn vần .

A!Có cuốn sách mới chính hiệu là học trò đây!Tôi giành lấy quyển sách .Nhìn xem cái bìa thấy có vẽ hình hai đứa con nít đang lật mở cuốn sách .Tôi nói:

–Học cuốn sách phải cần có hai đứa không má ?Con học có một mình thì học sao được ?

–Má sẽ cùng học với con .

–Nhưng má đâu phải là con nít ?Đứa con gái này lớn hơn thằng kia một chút .Chắc là chị của thằng kia .Đáng lẽ má đẻ cho con một đứa chị gái như vậy .

Má gật gật đầu:

–Ừ .Đáng lẽ má đẻ cho con một đứa chị như vậy .Nhưng mà thôi, đưa sách đây má lật dạy cho con .Đây, cái lưỡi câu đây .Lưỡi câu là chữ gì ?

Tôi lật đật nói liền như sợ có ai tranh nói trước :

–Chữ i .

–Giỏi lắm .Chữ i dùng để viết đi học, đánh bi . Con coi hình vẽ thằng nhỏ đi học .Vài hôm nữa con cũng ôm cặp và xách ve mực đi học như nó vậy .Còn thằng này thì ngồi đánh bi .Hai đứa nhỏ này đang chạy thi .

Tôi vội lật qua trang sau để xem có món gì lạ trong đó .Tôi la to lên:

–A!Con cá!Con cá đang bơi .

–Tên con cá là gì con biết không ?

Tôi lắc đầu:

–Không .

–Cá thu .Con cá thu có chữ u .

Chữ o thì thật dễ nhận ra .Má tôi chỉ hình vẽ một chùm trái cây rồi hỏi:

–O chùm… chùm gì ?

Tôi nói liền:

–Chùm ruột .

Má bật cười:

–Chùm nho chớ sao lại chùm ruột ?

Tôi cười ồ theo .Tôi quen kêu chùm ruột chớ ít nói chùm nho .Trên lối đi ngoài vườn có đến ba, bốn cây chùm ruột .Mùa hè, trái lòng thòng từng chùm .

Má chỉ hình con ve sầu (dạy chữ e) rồi hỏitôi con gì .

Tôi nhìn xuống hình, nhíu mày suy nghĩ một lát rồi nói :

–Con dán .

Má lại cười .Rõ ràng là sự học vẫn làm cho mẹ con tôi vui vẻ .

Có một trang vẽ làm cho má ủ dột nét mặt .Đó là trang dạy chữ ê vẽ hình một con dê mẹ cho dê con bú và con bò mẹ cho bò con bú .Con dê mẹ có bầu sữa thật lớn và đứng lom khom .Nó có một chùm râu nơi cằm nên không ra dáng một bà mẹ .Con bò cái trông dễ thương hơn .Nó quay lại nhìn con bú .Đôi con mắt trìu mến hiền từ, như mắt má tôi vẫn nhìn tôi khi tôi ngồi trong lòng má .

Học đến chữ q “con nhỏ quét nhà ” thì bịnh của má tôi phát nặng trở lại .Bác sĩ cấm không cho tôi được vào phòng má .Ba tôi âu lo, mỗi ngày gương mặt mỗi héo dần đi .Trong phòng má bước ra, ba đi thẫn thờ hoặc bước vội vã, và dường như ba không còn thấy sự hiện diện của tôi nữa, của chị bếp, của chị Năm giúp việc, của căn nhà, của mọi vật xung quanh .Có lẽ chỉ còn thấy sự hiện diện của cái cửa để bước ra, của cái bàn để đi tránh .Tôi buồn bã cô đơn, đem cuốn sách vần ra nhìn mặt chữ, nhìn hình vẽ .Lật xuôi lật ngược, đọc ngược đọc xuôi, nhưng cứ đến trang “con bé quét nhà” là dừng lại .Trang bên cạnh có vẽ con khỉ trèo cây .Chẳng biết chữ gì đó, đọc như thế nào và sự tích làm sao .Chắc phải hay lắm, thú vị lắm bởi một con khỉ thì không thể chán như hai trái đu đủ hay như cái lư đồng .Nhưng ai đọc cho tôi ?Ai giải thích cho tôi ? Thật ra thì ba tôi có thể chỉ cách đọc, chị bếp có thể chỉ cách đọc, nhưng tôi không muốn ai chen vào sự học của tôi để thay thế má tôi hết .Tôi chỉ tin ở má tôi thôi .Tôi chỉ an tâm thoải mái bên cạnh má tôi thôi .Đôi lúc ba tôi đi ngang cạnh tôi, đứng dừng lại, nhìn tôi ngồi trước trang sách .Tôi phải đọc vội những chữ u chữ e và đưa tay lật liền về những trang đầu sách .Khi vội quá không kịp lật ra trang trước thì tôi đưa bàn tay lại che cái hình con khỉ .Đáng lẽ ba tôi để ý tìm hiểu vì sao nhưng dáng ba mệt nhọc bơ phờ nên ba đứng dừng lại một chút rồi bỏ đi luôn .Tôi không muốn ba tôi nhìn đúng vào trang con khỉ trèo cây .Tôi sợ ba hỏi chữ gì rồi bày cho đọc luôn .Không!Tôi Để dành chữ đó cho má tôi .Tôi muốn nhìn đôi môi xinh xắn của má tôi đọc, ngón tay trắng thon của má tôi chỉ và tai tôi nghe giọng nói dịu dàng của má tôi phát âm tiếng đó .Tôi muốn má tôi kể cho tôi nghe về chuyện con khỉ đó như má kể chuyện con ve đi vay gạo của con kiến trong bài học chữ e, con tò vò nuôi con nhện trong bài học chữ t, đời sống của chúa sơn lâm, con sư tử giữa rừng Châu Phi trong bài học chữ s .Nhưng than ôi!Điều ao ước đòi hỏi của tôi không thể thực hiện đươc.Má tôi từ trần trong kỳ bệnh tái phát đó, má vĩnh viễn lìa bỏ tôi .Cuốn vần quốc ngữ chứng kiến sự ra đi đành đoạn của má .Nhìn trang bên này thì má tôi còn, nhìn trang bên kia thì má tôi mất .Con đường chỉ đóng ngăn cách hai trang như là con đường phân ranh giữa sự còn và sự mất, sự Sống và sự Chết của má tôi .

Má mất được hai tháng thì ba tôi dẫn tôi xuống trường Tiểu học Lai Đức xin cho tôi học lớp Năm .Cô giáo bắt dùng một cuốn sách vần khác không có vẽ hình con khỉ .Càng hay .Hình con khỉ nên chỉ để dành riêng cho má tôi và tôi thôi .Tôi không muốn ai dính dự vào đó hết .Hãy để cho nó giữ vẹn sự bí mật đối với tôi cũng như sự bí mật bao quanh má tôi từ khi má mất .Tôi không biết bây giờ má tôi ở đâu .Hài cốt thì chắc chắn là nằm ở nghĩa trang thành phố, dưới ngôi mộ đắp vun lên, xây đá, quét vôi trắng và phía trước có tấm bia ghi rõ tên má .Hàng chót của tấm bia ghi tên tôi, đứa con trai độc nhất của má mà người khắc bia ghi là:Trưởng nam phụng tự .Cái thân xác của má còn đó nhưng linh hồn thì phiêu lãng ở cõi nào ?Tôi không tin là cái linh hồn đó bị tiêu diệt đi được .

Từ ngày má mất, ba tôi dịu dàng với tôi nhiều hơn trước, mặc dù sự học của tôi không theo kịp nổi những đứa cùng tuổi .Ba tháng học của một thằng sáu tuổi kết quả bằng một năm học của một đứa lên bốn tuổi, điều má tôi nói có thể đúng, nhưng những đứa sáu tuổi lại không chịu ngừng học để đợi tôi, để cho tôi theo kịp .Chúng nó cứ học như điên và tôi phải vừa học theo vừa trả nợ liên miên .Trả nợ hồi lên bốn, trả nợ hồi lên năm, trả nợ hơn nửa năm lên sáu .Ba tôi khuyên:

–Con cứ yên tâm mà học .Chẳng cần phải vội chi .Lớp Năm, lớp Tư con thua chúng bạn nhưng lên lớp Ba, lớp Nhì con sẽ bằng, lên lớp Nhất con sẽ hơn .Con đường học vấn còn dài lắm .

Tôi nói thầm:

–Con cám ơn Ba, nhưng con sẽ cố gắng học để mau cho bằng chúng bạn . Con chỉ thua chúng bạn ở lớp Năm, bằng chúng bạn ở lớp Tư và lên lớp Ba con sẽ hơn .Con phải làm vui lòng má con, làm sao cho má khỏi phải hối hận là bởi má mà con đi học chậm trễ thua sút con người ta .

Tôi đã giữ lời hứa, dù đó là lời hứa âm thầm .Tôi đã can đảm ngồi lại bàn học lâu hơn những đứa bạn tôi, bị thúc đẩy bởi lòng yêu thương má tôi tha thiết không nguôi .Lâu lâu, tôi lén mở cuốn sách vần cũ, cuốn vần đầu tiên của chúng tôi .Hai đứa nhỏ vẫn cứ chạy thi hoài, chạy suốt đêm suốt ngày không biết mệt .Thằng nhỏ vẫn ngồi bắn bi, bắn bi mày như cầm hòn bi dứ vào miệng con cá phi đang lừ mắt nhìn .Trang sau có thằng nằm ngủ miệng há ra để vớt những chữ o trên tay, và dưới tấm hình người ta biên là ngáy o o .

A!Cái chùm nho mà ngày xưa tôi kêu là chùm ruột!Từ ngày má mất, chị Năm và chị bếp tị nạnh nhau lười biếng tưới cây .Cây chùm ruột cạnh giếng thì còn tươi tốt trái bâu đầy cành, còn mấy cây chùm ruột đứng ở góc rào thì thiếu nước nên bị đói trông thấy .Lá mỏng đi và hay xếp quặp lại .Rầy bám đen thân cây như có ai rảy bột than lên đó .

Tôi lật thêm vài trang .Con dê mẹ còn đứng khom lưng, con bò mẹ vẫn quay mặt âu yếm nhìn con dê đang say sưa bú .Tôi nhớ đến nét mặt buồn của má tôi lần đầu tiên khi má lật trang này .Má ơi, hôm nay thì con biết tại sao má buồn như vậy .Má muốn đem má so với con bò mẹ đó .Con bò mẹ còn nhiều ngày tháng để âu yếm nhìn con nó, còn má thì sắp sửa phải vĩnh viễn xa con .Con nhớ buổi sáng đó má nhìn lâu bức hình rồi má thở dài .Má quay mặt đi nơi khác .Con hỏi má:

–Con bò con nó bú hết sữa thì lấy đâu để người ta làm sữa bò, hở má ?

Con đợi lâu không thấy má trả lời .Khi má quay lại thì con thấy mắt má đỏ và ươn ướt .Con còn dại không hiểu là má đang khóc .Con hỏi:

–Sao mắt má đỏ vậy má ?

Má nói:

–Có hột bụi nó rớt vô mắt má .

Má ơi, hôm nay coi lại hình con bò mà con nhớ má quá chừng .Con muốn được ngồi cạnh má và được má nhìn bằng đôi mắt âu yếm như đôi mắt của con bò cái nhìn con nó vậy .

Nghĩ tới đây, nước mắt tôi lặng lẽ trào ra .Tôi không muốn khóc mà!Tôi chỉ muốn nhớ tới má tôi thôi, nhớ đôi môi xinh xắn, ngón tay trắng thon và giọng nói dịu dàng .Tôi lật thêm vài trang .Đến trang con bé quét nhà và con khỉ trèo cây thì cơ hồ mắt tôi không còn nhìn rõ hình vẽ nữa .Màng nước mắt đã dày và những hình vẽ chập chờn rung rinh .

Mỗi lần mở cuốn vần ra coi, tôi sợ ba tôi bắt gặp .Tôi thường đợi lúc nào ba đi vắng .Tôi không muốn bị ba phê bình là đa cảm uỷ mị .Hồi má còn và thấy tôi lớn đầu mà còn quấn quít bên mẹ, ba tôi tỏ ý lo rằng sau này lớn lên tôi thiếu mạnh dạn can đảm .Chính vì lẽ đó mà mặc dù rất chìu chuộng má tôi, có nhiều lần ba tôi phải la lối gay gắt .

Quyển sách vần, tôi cất kỹ trong tủ sách của tôi .Hễ lật coi xong là len lén đem cất dưới đáy tủ .Thế nhưng có hôm vì bạn tới chơi bất ngờ hay có việc gì đó hốt nhiên xảy đến, tôi lật đật quên dẹp nó .Và rồi tôi cũng quên bẵng nó nữa .Tuổi nhỏ có trí nhớ rất dai nhưng dễ lơ đễnh lộn xộn .Khi mở cặp học bài, bỗng thấy cuốn vần nằm trong đó .Lần đầu tiên, tôi kêu chị bếp:

–Chị có bỏ quyển vần cũ trong cặp của em phải không ?

Chị lắc đầu:

–Không .

Tôi nói:

–Vậy thì chắc chị Năm .

Tôi kêu chị Năm và lặp lại câu hỏi .Chị Năm dài dòng hơn:

–Từ sáng đến giờ chị đâu có vô phòng em mà bỏ ?Ai bỏ đó chớ, chị bỏ thì chị nhận liền .

Chắc chị Năm nghi chị bếp bỏ .Và chắc chị chưa nghe rõ câu hỏi, chưa biết bỏ cái gì, bỏ vô đâu và bỏ như vậy thì có hại gì .Chắc chị đang nghĩ “kẻ đó” đã làm một điều lỗi, và chị muốn đổ riệt cho chị bếp .Tôi không muốn hỏi dài dòng thêm .Một cái chạng cây ổi nơi đó tôi ngồi núp dưới bóng lá để nghe con chim kêu chích chích đối với tôi thích thú hơn những chuyện đôi co .

Một lần sau lại cũng bỏ quên quyển vần và cũng lại tìm thấy trong cặp .Lần này tôi bận làm toán đố, không kịp điều tra .

Một buổi sáng nọ tôi đang mê ngủ thì chợt giật mình thức dậy .Nhìn ra cửa sổ thấy ánh sáng ban mai còn mờ mờ .Bên phòng ba tôi có tiếng lục đục .Ba có thói quen dậy sớm .Một lát sau có tiếng cửa mở nhẹ, rồi tiếng dép của ba đi về nhà sau .Chợt tôi nghe tiếng ba tôi hỏi:

–Đứa nào đem bỏ quyển vần Quốc Ngữ của em vô đây ?

Tôi lo quá khi nghe ba tôi nhắc đến quyển vần Quốc Ngữ .Đúng rồi, chiều qua tôi lật ra coi rồi bỏ quên không dẹp .Chắc chị bếp tánh hay làm ẩu, lấy đặt vào một nơi nào mà ba tôi không bằng lòng .Đặt lên đầu tủ lạnh, trên mặt tủ búp – phêchẳng hạn .Tính ba tôi sạch sẽ mà quyển vần thì lem luốc rách rưới .

Tiếng chị bếp:

–Dạ thưa ông, cháu đó .

–Quyển sách của em mà, sao đem quăng vô đây ?

–Dạ cháu thấy cuốn sách rách bìa, bỏ rớt dưới sàn gạch phòng ăn .Cháu tưởng em nó bỏ .Cháu lượm quăng vô giỏ để hồi nào nhen lửa .Cuốn sách vần cũ mà, thưa ông .

–Ừ, cuốn vần cũ chớ sao ?

–Em học lên tới lớp Nhất rồi, còn dùng cuốn vần đó chi nữa .

Một khoảng im lặng hơi dài .Tôi nghĩ rằng ba tôi bỏ đi chỗ khác không trả lời chị bếp .Nhưng không .Vẫn nghe tiếng ông nói ở chỗ cũ:

–Em nó giữ để lâu lâu nó mở ra coi .Kỷ niệm của má nó đó mà .Lần sau hễ thấy em nó bỏ lạc chỗ nào thì nhớ lượm lên đem bỏ vô cặp cho em .

–Dạ .

Tiếng dép ba tôi đi lên nhà trên .Tay nắm cửa phòng tôi quay nhè nhẹ và cửa phòng mở nhè nhẹ .Tôi vội vàng nhắm mắt giả vờ ngủ .Ba tôi lại gần giường đúng nhìn tôi giây lâu rồi nhẹ mở cái cặp của tôi đặt quyển vần vào trong .Ông đóng cặp lại rồi rón rén bước ra khỏi phòng .Cánh cửa nhẹ nhàng đóng lại sau lưng .

Tôi cảm động muốn kêu lên:”Má ơi!Ba không nghiêm khắc với con như má hằng lo sợ hồi má còn sống .Ba uốn nắn con nhẹ lắm, nhẹ hơn uốn cây măng non .Ba quý trọng những giờ phút quấn quít cạnh nhau của mẹ con ta, hồi xưa và cả bây giờ và mãi mãi sau này nữa, má có biết không ?”Tôi rất yên tâm bởi không bị cản trở trong việc thỉnh thoảng ngồi nhớ má tôi, nhớ những ngày cũ êm đềm cạnh má, sự hồi tưởng bâng khuâng mà khi lớn lên tôi coi như những cuộc hành hương lặng lẽ về Quá Khứ có má hiện diện, về Đất Thánh của tâm hồn tôi .

Võ Hồng
(Nhân mùa Bông Hồng Cài Áo – Vu Lan 1969)

 

Nhật Ký tháng tư Tháng Sáu 27, 2008

Nhật Ký tháng tư
                               

Tháng hai, tháng ba,mùa xuân buồn
Huế, Đà Nẵng,Buôn Mê Thuột…
Đã biến thành sa mạc, rừng hoang
Với bao nhiêu đạn bom và xác chết không nguyên vẹn.
Cộng quân đã tiến gần thành phố…
Tại Sàigòn, hàng ngàn người ,hàng vạn ngưòi
Bao quanh tòa đại sứ Mỹ …
Để cầu xin ân huệ cuối cùng.

Ngày 27, 28 tháng tư,
Có những chuyến tàu ra đi
Có những người bị đạp xuống biển
Có những người bám vào trực thăng
Bị chém đứt tay
Có những nhà tu hành
Cũng tranh giành
Một chỗ ngồi trong địa ngục
Có những bà mẹ cười khóc
Ôm đứa con đã chêt bốn năm ngày.
Có những người tuyệt vọng.
Đi lang thang trên thành phố không đèn.
Đường Tự Do, Lê Lợi không còn quán cà phê
Trước rạp ci nê :” Cơn Đại Hồng Thủy” vài đứa trẻ bơ vơ.
Những Bình Khang , những Xóm Mới vắng khách giang hồ.
Những người bạn thân mến,
Đã đến giã từ…
Những cột đèn âm u
Đứng rời rã trong đêm lao tù

Đêm 29 tháng tư
Cộng quân pháo kích vào thành phố
Lửa cháy, nhà đổ!
Và sáng 30 tháng tư,
Cộng quân đã vào thành phố
Chúng đi trên những chiếc xe tăng
Mặt mũi hung hăng,
Chúng chĩa súng bắt dân hoan hô rầm rộ…
Lịch sử đã sang trang,
Những dòng chữ đen đúa, nghệch ngoạc
Những chủ nhân ông mới từ rừng sâu tiền sử
Và từ trong hang
Những quỷ dữ
Những quỷ nhập tràng
Đi cướp bóc các tư gia
Các ngân hàng
Các cơ quan, các kho tàng
Chúng chia nhau những căn nhà,những biệt thự
Những xe Suzuki, Honda
Tú Xương, Thanh Quan, Đồng Khánh, Rex
Cư xá Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Kim, Thanh Đa
Đâu đâu cũng thấy dép râu, nón cối
Những đàn bò trong thành phố hoàng hôn…

Nhân dân tôi trở thành nô lệ
Hoặc trở thành những kẻ không hồn
Một nửa ngồi tù, một nửa thất nghiệp
Đọa đày, đói rách
Tất cả chúng tôi trở thành những con chuột bạch
Cho những kẻ ngu si hống hách
Tự xưng trí tuệ và anh hùng
Làm thí nghiệm hay làm trò chơi dối trá
Anh em chúng tôi
Một số cúi đầu
Một số đứng lên quật khởi
Vinh Sơn,Lê Quốc Quân,Trần Văn Bá
Một số xuyên rừng sâu
Một số vượt biển cả
Một số người đã chết ở Trường Sơn, Tam Biên
Một số bỏ xác trong miệng cá
Một số chết trong nhà tù
Nhưng hàng vạn người đã đứng lên
Thái Bình , Xuân Lộc, chùa Thiên Mụ
Quảng Độ, Huyền Quang,Tuệ Sĩ,
Là những con người bất khuất
Chúng tôi đã viết thành lịch sử
Và sẽ viết nên những trang oai hùng
Của Lê Lợi, Quang Trung
Đấu tranh cho tự do và dân chủ
Xây dựng Việt Nam hùng cường

 

Who’ll Take the Son? Tháng Sáu 27, 2008

HAPPY FATHER’S DAY TO EVERYONE!

Who’ll Take the Son?

Tran Dieu Chan

 A wealthy man and his son loved to collect rare works of art.
 They had everything in their collection, from Picasso to Rafael.
 They would often sit together and admire the great works of art.

 When the Viet Nam conflict broke out, the son went to war. He
 was very courageous and died in battle while rescuing another
 soldier. The father was notified and grieved deeply for his
 only son.

 About a month later, just before Christmas, there was a knock at
 he door. A young man stood at the door with a large package in
 his hands. He said, “Sir, you don’t know me, but I am the
 soldier for whom your son gave his live. He saved many lives
 that day, and he was carrying me to safety when a bullet stuck
 him in the heart and he died instantly. He often talked about
 you, and your love for art.

 The young man held out his package. “I know this isn’t much.
 I’m not really a great artist, but I think your son would have
 wanted you to have this.”

 The father opened the package. It was a portrait of his son,
 painted by the young man. He stared in awe at the way the
 soldier had captured the personality of his son in the painting.
 The father was so drawn to the eyes that his own eyes welled up
 with tears. He thanked the young man and offered to pay him for
 the picture.

 ”Oh, no sir, I could never repay what your son did for me. It’s
 a gift.”

 The father hung the portrait over his mantle. Every time
 visitors came to his home he took them to see the portrait of
 his son before he showed them any of the other great works he
 had collected.

 The man died a few months later. There was to be a great
 auction of his paintings. Many influential people gathered,
 excited over seeing the great paintings and having an
 opportunity to purchase one for their collection.

 On the platform sat the painting of the son. The auctioneer
 pounded his gavel. “We will start the bidding with this picture
 of the son. Who will bid for this picture?”

 There was silence. Then a voice in the back of the room
 shouted. “We want to see the famous paintings. Skip this one.”

 But the auctioneer persisted. “Will someone bid for this
 painting? Who will start the bidding? $100, $200?”

 Another voice shouted angrily. “We didn’t come to see this
 painting. We came to see the Van Goghs, the Rembrandts. Get on
 with the real bids!”

 But still the auctioneer continued. “The son! The son! Who’ll
 take the son?”

 Finally, a voice came from the very back of the room. It was the
 long-time gardener of the man and his son. “I’ll give $10 for
 the painting.” Being a poor man, it was all he could afford.

 ”We have $10, who will bid $20?”

 ”Give it to him for $10. Let’s see the masters.”

 ”$10 is the bid, won’t someone bid $20?”

 The crowd was becoming angry. They didn’t want the picture of
 the son. They wanted the more worthy investments for their
 collections.

 The auctioneer pounded the gavel. “Going once, twice, SOLD for
 $10!”.

 A man sitting on the second row shouted. “Now let’s get on with
 the collection!”

 The auctioneer laid down his gavel. “I’m sorry, the auction is
 over.”

 ”What about the paintings?”

 ”I am sorry. When I was called to conduct this auction, I was
 told of a secret stipulation in the will. I was not allowed to
 reveal that stipulation until this time. Only the painting of
 the son would be auctioned. Whoever bought that painting would
 inherit the entire estate, including the paintings. The man who
 took the son gets every thing!”

 God gave his son 2,000 years ago to die on a cruel cross. Much
 like the auctioneer, His message today is, “The son, the son,
 who’ll take the son?”

 Because you see, whoever takes the Son gets everything.

Tran Dieu Chan

—————
Vietnam Insight (vinsight@best.com)
URL: http://www.vinsight.org/Terms of Service
Copyright © 1994-1999 Yahoo! Inc. All rights reserved.

 

Hai Người Đệ Tử Tháng Sáu 27, 2008

Hai Người Đệ Tử

Sơn Trung

Câu chuyện xảy ra đời Lê Thánh tông.Khắp nuớc thái bình thạnh trị, dân chúng chăm lo làm ăn, kẻ học văn,người học võ, kẻ làm ruộng, người làm thợ, ai cũng hăng hái ra sức làm việc . Tại động Huyền Không trên núi Hồng Lĩnh bấy giờ có Hư Tịch đạo nhân lập tịnh am tu hành. Đường lên núi rất khó khăn,từ am về thôn trang phải đi khoảng hai ngày đường núi. Ngoài việc tu hành, đạo nhân còn mở trường dạy võ, dạy y thuật, dạy bói toán. Học trò cùng thầy khai hoang lập trại, trồng lúa khoai tự túc. Mỗi tháng một lần, các học trò mang mây,sâm, khoai mài, củ nâu …về chợ đổi gạo, muối,vải… Trong số học trò của đạo nhân, có Sơn và Linh là hai học trò giỏi.
 Sơn vốn người Thanh Hoa nội, thông minh,tuấn tú,ham võ nghệ. Linh người Thuận Hóa,tính tình hiền lành, thích y dược. Cả hai được đạo nhân thương mến, truyền cho hết sở học. Sau ba năm theo thầy học đạo, cả hai được thầy cho phép xuống núi, đem tài giúp đời. Linh lúc này đã có vợ con.Linh đem hết tài năng và tâm huyết phục vụ bệnh nhân. Ai muốn trả bao nhiêu cũng được.Linh không bao giờ đòi hỏi tiền bạc. Một vài nải chuối,một vài con cá, vài đấu gạo đều không thành vấn đề.Nửa đêm mưa bão,đường xa xôi, Linh không quản ngại khi có người đến cầu cứu. Những con bệnh thập tử nhất sinh đều đươc Linh cứu khỏi. Trong vài năm, tiếng tăm của Linh vang dậy khắp vùng. Vợ con Linh rất tự hào về Linh.
 Sơn là một thanh niên độc thân vì chàng muốn rảnh rang để theo thầy học nghiệp.Nhưng trước khi theo thầy học tập, Sơn đã có người yêu, một thiếu nữ nổi tiếng xinh đẹp nhất vùng.Khi trở về làng, Sơn làm lễ thành hôn với người yêu. Sơn theo nghề nông là nghề của ông cha mấy đời. Chàng lại mở lớp dạy võ cho các thanh niên trong làng vào mỗi tối.Lớp học tầm thường này chẳng bao lâu cũng nổi tiếng. Các võ sinh do Sơn huấn luyện đã đi dánh võ khắp nơi và đã giật nhiều giải thưởng trong những ngày lễ hội nhất là trong dịp Tết. Trong vùng có cậu Bửu là con trai của một chánh tổng. Y đã yêu vợ Sơn nhưng bị nàng cự tuyệt. Y cũng là tay thích võ nghệ.Y đã nhiều lần giao đấu cùng Sơn nhưng bị đánh ngã trên lôi đài nên y hận Sơn vô cùng.Y bèn lập mưu cùng một số bạn bè trả thù. Biết mỗi tối sau buổi dạy võ, Sơn thường ra về một mình và phải băng qua một quãng rừng thưa. Bửu cùng bè bạn phục kích trong rừng vào một đêm tối.Khi Sơn đi tới, cả bọn xông ra đánh đòn hội chợ. Mãnh hổ nan địch quần hồ.Trận đó Sơn bị trọng thương, phải nằm nhà điều trị mất nửa năm trời mới đi đứng được.Khi sức khỏe đã hồi phục, Sơn lại lên đường tìm đến thầy cũ. Gặp thầy, Sơn thuật lại chuyện mình đã trải qua, và trình bày thắc mắc của mình:
-”Thưa thầy, muốn đánh kẻ địch, hoặc muốn chống với sức cứng mạnh ở bên ngoài, ta phải vận nội công.Nhưng khi ta chưa vận nội công mà kẻ địch xông đánh bất ngờ khắp bốn phía, thì ta phải làm sao?”
Đạo sư trầm ngâm khá lâu rồi mới đáp:
“Bậc tu luyện lâu năm thì được linh giác và cương khí hộ thể. Kẻ địch chưa đến thì mình đã cảm nhận được lập tức.Đó là linh giác.Khi kẻ địch xuất hiện, dù y mạnh và nhanh bao nhiêu cũng không thể tới gần và xâm phạm vì ta đã có cương khí hộ thể. Người đươc như thế rất hiếm. Còn chúng ta là thường nhân, dù vận nội công nhanh bao nhiêu cũng không thể tránh được đao kiếm bất ngờ. Tuy nhiên, chúng ta cũng có phương pháp khắc phục.Đó là dùng phương pháp bí truyền nội công,bất cứ lúc nào, dù đi đứng nằm ngồi đều phải nhất tâm quán tâm như đá, như sắt…Sau một thời gian. năm năm hay mười năm,ta đã thực sự thành đá, thành sắt thì ta có thể chiến thắng kẻ thù.”
Nghe lời sư phụ, Sơn ở lại tập luyện.
 Công việc trị bệnh của Linh ngày một thành công tốt đẹp. Dù Linh không lấy tiền nhưng biết bao phú gia, bao hoàng thân quốc thích cũng tìm đến trị bệnh và cung phụng vàng bạc.Linh đã mua thêm ruộng đất và xây tòa ngang dãy dọc. Một ngày có một trăm bệnh nhân đến xin chữa trị. Sơn phải lập bệnh xá cho bệnh nhân có chỗ trú nắng mưa và nghỉ ngơi.Linh phải thuê người hái thuốc,phơi thuốc và phục vụ bệnh nhân. Số bệnh nhân lại tăng lên hai trăm,ba trăm người một ngày.Linh bỏ ăn,bỏ ngủ để săn sóc họ. Mồng năm,ngày tết Linh cũng không được nghỉ. Linh một ngày một xác xơ. Cuối cùng Linh mắc một chứng bệnh nan y: bệnh lao, kết quả của những tháng ngày làm việc quá sức.Linh đã treo bảng cáo ốm nhưng số người bệnh dồn lại quá đông.Họ không chịu giải tán.Mùi nước tiểu, mùi hôi hám xông lên nồng nặc khắp xóm, khắp làng.
Một buổi sáng, cả làng xóm được tin Linh cùng gia đình đã âm thầm trốn đi.
 Sau mười năm tập luyện,Sơn đã thành công. Con người Sơn đã biến thành sắt thép thực sự. Dù kẻ địch đột nhiên tấn công, Sơn không cần phản công, kẻ địch nếu không bị dội văng ra xa thì cũng chẳng làm cho Sơn đau đớn hay bị thương. Nhưng từ đó lòng Sơn buồn bã vô cùng.Trong đêm đầu tiên tái ngộ sau mười năm xa cách, vợ Sơn đã gãy xương ngực và tay chân vì những cử chỉ âu yếm của Sơn.Sau này, vợ Sơn lành bệnh, Sơn vẫn thấy có một cái gì đổi khác trong chàng. Chàng không đam mê, không buồn,không giận như trước đây. Chàng không còn cảm thấy mùi thơm của hương cau. Chàng không cảm thấy vị ngọt ngào của lúa mới, của trái cây trong vườn.Nhất là chàng không còn cảm được cái ngây ngất của thú ôn nhu bởi vì toàn thân chàng cho đến trái tim, tấc lòng đã thực sự biến thành đá. Buồn rầu, chàng lại lên núi tìm thầy cũ.Bậc sư nay đã trên trăm tuổi, mỉm cười bảo chàng:
Người luyện võ có nhiều cấp bậc, có nhiều giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là luyện thân thể như sắt.Giai đoạn thứ hai là luyện tâm như sắt.Giai đọan thứ ba là luyện tâm và thân như người thường. Con hãy xem.Răng cứng mà rụng trước,lưỡi mềm mà tồn tại lâu dài.Con lại hãy xem. Nước cứng hay mềm? Nước mềm mà làm mòn đá.Nước yếu hay mạnh? Nước có khi mềm mại, có khi dũng mãnh cuốn phăng nhà cửa, thành quách, đê điều. Chí cương chưa phải là tốt.Kinh Dịch nói: “Âm nhu tương thôi nhi sinh biến hóa.”Chí cương, chí nhu ,chí âm, chí dương là thái quá,là bất cập, là chết.” Phải có cương có nhu.Nước vừa cương vừa nhu. Con người phải có nhu lẫn cương.Xương là cương, gân và thịt là nhu nhưng gân thịt cũng có thể biến thành sắt thép. Đối với bậc võ sĩ thượng thừa, ngọn lá, sợi giây cũng có thể thành võ khí lợi hại không thua đao kiếm.Con bỏ nhu tìm cương là thiếu sót. Bây giờ con bước qua giai đoạn ba:cương nhu hòa hợp, trong nhu có cương,trong cương có nhu. Âm dương biến chuyển, cương nhu hòa hợp là võ đạo mà cũng là nhân đạo, thiên đạo.
 Nghe lời thầy, Sơn trở về nhà làm một nông dân tầm thường, không nói đến chuyện võ nghệ và giao đấu nhưng đêm nào Sơn cũng thiền định để điều chỉnh thân tâm.Sau khi bậc tôn sư cỡi hạc về trời, các huynh đệ đồng môn theo lời thầy dặn, cho người mời Sơn lên núi kế tục sự nghiệp của thầy.
                                                                      

 

Vượt Thoát Tháng Sáu 27, 2008

Vượt Thoát

Ngô Minh Hằng.

Thời gian lúc này với Nhung thật nặng nề chậm chạp. Dường như Nhung ngồi yên như thế đã lâu lắm rồi. Trong đám cỏ cao hơn nửa thân người, nàng cố gắng thu mình cho nhỏ hơn nữa. Nhung nghe rõ tiếng tim đập loạn xạ trong lồng ngực và chân tay lạnh giá. Mùi cỏ mục và mùi bùn hăng hắc thoảng trong sương đêm.
Dưới hai bàn chân trần, Nhung cảm thấy nước và bùn ướt nhẹp. Quái ác hơn nữa, những cơn gió dù rất nhẹ cũng đủ gây thành tiếng động làm cho những con cào cào nhảy loạn. Một con nhái nhỏ nhảy đến ngồi ngay trên lưng bàn chân Nhung. Giá phải như lúc thường thì Nhung đã nhảy nhỏm và la chói lói. Cảm giác lành lạnh ươn ướt từ con vật thấm qua da chân làm Nhung càng thêm khiếp đảm. Một cái gì ơn ớn chạy dọc theo chiều xương sống. Nhung rùng mình. May quá, nhờ cái rùng mình, con vật thấy động hốt hoảng nhảy đi. Tuy vậy, Nhung vẫn cảm thấy còn quá sức căng thẳng. Căng thẳng vì sợ hãi. Nàng sợ hãi không phải chỉ vì con nhái nhỏ bé kia mà vì đám công an, du kích đang ở đó không xa.
Cách nàng chừng vài trăm thước, những ánh đèn pin vẫn loang loáng trong đêm. Tiếng gọi nhau, tiếng quát tháo, tiếng chửi thề tục tĩu của đám du kích xã vọng lại từ phía bãi cỏ gần bờ lạch tùy theo chiều gió nên nghe lúc rõ lúc không. Cách Nhung chừng vài thước phía bên mặt, anh Long và đứa con trai cũng cố nép mình thật thấp. Nhung đoán chắc họ cũng sợ hãi không kém gì nàng. Phía bên trái, gần Nhung hơn là chị Thanh và Thảo, chị em bạn dì với Nhung. Thảo vai lớn nhưng vì cùng tuổi lại học chung trường nên hai đứa gọi nhau bằng tên từ bé.
Bỗng đâu, trong lúc bất ngờ nhất, một tiếng cười nhỏ vang lên. Sau đó, Nhung nghe chị Thanh rít qua kẽ răng bực bội:
- Cái con nàỵ Lúc này mà mày còn cười được thì tao chịu!
Không có tiếng trả lời nhưng tiếng cười vẫn tiếp tục nổi lên. Đúng ra, không phải là tiếng cười mà chỉ là những tiếng gió đi qua ống mũi nghe “hích hích”. Hình như Thảo đã lấy tay bụm cả mũi miệng lại để cố giữ không cho những tiếng “cười” đó bay thoát ra ngoài. Qua tiếng cười của Thảo, dù không biết lý do nhưng Nhung cũng cảm thấy không khí nhẹ đi đôi chút. Không lâu, một mùi xú uế thoảng xông lên. Nhung chợt nhớ mẹ kể rằng chị Thanh phải cái bệnh cứ sợ quá thì chị lại đau bụng đi ngoài. Xưa, hồi mới lấy chồng, chị đến đơn vị thăm anh, chẳng may đêm đó bị VC pháo kích, chị “đũn” ra quần. Chị mắc cở khóc suốt đêm. Ông chồng dỗ mãi chị cũng không chịu nín. Sáng sớm, chị đòi anh đưa ra bến xe đò chuyến sớm nhất về thẳng nhà mẹ ở đến cả tuần. Từ đó, dù anh Lân bận hành quân mấy tháng không về được, nhớ vợ nhớ con, nhắn chị đến thăm, chị cũng nhất định không đi. Nghĩ đến đây Nhung cũng không nhịn được cười. Nàng vội đưa tay bụm miệng và thấy mình rung cả hai vai. “Ừ nhỉ. Sao lúc này mà mình cười được nhỉ”, Nhung nghĩ thầm.
Trời vừa xẩm tối là Nhung và Thảo đã từ Saigon đi chuyến xe chót đến nhà ông Cả. Ông Cả làm nghề đánh cá ở Chu Hải từ lâu. Ông lại khá giả, tốt bụng và hay giúp đỡ người cơ khó nên rất có uy tín với xóm giềng. Ông bà Cả có bảy người con, năm trai, hai gái. Các con ông, tất cả đã thành gia thất và ông có một bày cháu nội ngoại đến gần hai chục đứa. Sau biến cố 75, ông nghỉ đi biển. Con ông, ba người con trai, một con rể nối nghề của bố. Mấy năm sau này cứ chờ lúc thuận tiện ông lại tổ chức một chuyến vượt biên cho con cháu ông đi. Do đó, họ hàng thân quen ông, ai biết chuyện đều gởi gấm con cháu họ. Anh Long, cháu gọi mẹ Nhung là cô, vợ anh là cháu gọi ông Cả bằng bác nên khi mẹ Nhung thấy Long đi, bà nhất định gởi Nhung và chị em Thảo đi theo vì trước đó, Nhung đã bị lừa và đi hụt mấy lần.
  Theo sự sắp xếp của ông Cả, chị Thanh đến nhà bà Tư, em gái ông từ sáng sớm để “ăn giỗ” ông Tư. Anh Long và Mạnh, thằng con trai lớn mười bảy tuổi của anh thì nằm ở kho chứa lưới và vật dụng phế thải đã hai hôm. Đợi Nhung và Thảo vào hẳn trong nhà, Ông Cả bảo chị Thêm, người con dâu thứ hai, đưa sang nhà bà Tư bằng cửa sau để chờ nửa đêm lên ghe ngay tại con lạch nhỏ sau nhà.
Con lạch nhỏ này chỉ có những ngày nước lớn ghe mới đi lại được mà phải là loại ghe nhẹ nên không ai nghĩ đó là một khởi điểm tốt cho những cuộc vượt biên của con cháu ông Cả. Cũng bằng con lạch nhỏ này, chỉ có người trong xóm như gia đình ông Cả mới dùng làm con đường tắt ra bến, nơi ông neo tàu đánh cá cho gần. Những ngày nước cạn phơi cả lòng đất nứt nẻ, không ai qua lại nên bọn công an và du kích xã không lưu tâm đến.
Cho đến một hôm thấy đám con cháu ông vơi dần, bọn công an hỏi, ông mua lòng heo, rượu đế cho chúng ăn uống rồi ông mượn cớ say chửi toáng lên là con cháu ông hư hỏng, chê nghề đánh cá của ông nắng nôi tanh tưởi nên bỏ lên Saigon làm du đãng. Ông giận nên không thèm ngó mặt và cũng không thích ai nhắc đến những đứa con, đứa cháu hư hỏng ấy nữa. Được ăn uống no say, bọn công an phường chẳng tìm hiểu gì thêm nhưng bọn du kích xã thì bắt đầu để ý. Chuyến vượt biên mới đây, ông Cả phải chi cho bọn chúng hai chục cây vàng để chúng lờ đi. Lần này cũng vậỵ Lúc nãy Nhung nghe anh Long nói là ông Cả đang bị hai phe công an và du kích tranh ăn với nhau nên ông phải chi cho cả hai phe. Ấy vậy mà chúng vẫn còn cố bới móc lẫn nhau.
Bữa cơm tối dọn ra vội vã và ai cũng chỉ ăn qua loa. Cô Nhàn, con gái bà Tư vừa rửa xong chén bát thì có người đứng ngoài cửa sổ làm tín hiệu gọi anh Long, bảo rằng tất cả phải đi ra bãi cỏ phía sau nhà mà trốn vì có tin là bọn du kích sẽ kiểm tra hộ khẩu. Thế là tất cả hoảng hốt bỏ cả guốc dép, nối đuôi nhau ra đây. Chỉ còn hai đứa con nhỏ của chị Thanh đang ngủ nên đành để lại trong nhà.
Đột nhiên trong gió, một giọng đàn ông vọng lại làm Nhung trở về thực tại:
- Các đồng chí chỉ nghe tin thất thiệt rồi làm chúng ta phí công vô ích. Hồi chiều này đội tôi đi công tác ở đây có thấy gì đâu. Vả lại, các đồng chí du kích ai cũng đề cao đạo đức cách mạng, noi gương Bác mà canh gác kỹ lưỡng thế này thì bọn phản động nào mà dám đưa đầu vào rọ cơ chứ.
- Ấy, đồng chí trưởng ban công an nói thế thì rất phải nhưng tụi ngụy nó ghê lắm, phản động lắm. Mình cứ đề cao cảnh giác là hơn. Hồi chiều tôi được nhân dân báo cáo là bọn nó tổ chức đi “tắc xi” từ đây cơ đấy!
Một tên khác xen vào:
- Hay là tụi nó ẩn nấp ở nhà nhân dân đấy. Mình đi kiểm tra xem.
Giọng nói đầu lại ồm ồm:
- Ý kiến của đồng chí Bảy cũng tốt thôi. Nhưng tôi chỉ sợ là mất công mà chẳng thu được thắng lợi gì. Mà đi kiểm tra thế, không khéo lại phải làm kiểm điểm vì trễ buổi họp trên xã tối nay đấy.
Nghe đến đây, chị Thanh hoảng hốt thầm thì:
- Thôi chết rồi. Nếu lỡ tụi nó khám nhà bà Tư, thấy mấy đứa nhỏ lạ nằm ngủ mà không có người lớn, nó hỏi, mẹ con bà Tư luống cuống, nó túa ra đây thì chết cả đám. Thảo ơi, Nhung ơi, để chị vào với cháu.
Thảo vội vàng:
- Thế lỡ tụi nó hỏi thì chị nói thế nào?
- Chị nói là cho con về nhà bà cô ăn giỗ và đưa giấy phép đi đường chứng minh cho chúng nó là xong chứ gì! Hơn nữa, ông Cả đã lo lót cho thằng trưởng toán rồi. Chắc không đến nỗi nào đâu!
Thảo làm ra vẻ sành đời:
- Ấy, thế mới chết. Nếu thằng này ăn mà thằng kia nhịn, chúng nó ganh nhau thì mình mệt.
Nghe chị em Thảo bàn tính và thấy chị Thanh có lý, lại thấy quãng đường từ chỗ núp đến cửa sau nhà bà Tư nếu “đi” theo kiểu “ngồi” thì tốn độ năm bảy phút. Nhung phụ họa:
- Đúng đấy chị Thanh ạ. Thấy trẻ con lạ mà không thấy bố mẹ chúng nó nghi ngay, lúc đó, nó ra đây lục soát thì nguy cả đám. Nhất là anh Long. Anh ấy mới đi học tập về.
“Được lời như cởi tấm lòng” chị Thanh vẫn theo thế ngồi, dùng hai tay vẹt nhẹ từng đám cỏ, cẩn thận “đi” về phía nhà bà Tư. Nhung và Thảo hồi hộp nhìn theo dấu chị. Mỗi “bước” chị “đi” qua, đám cỏ lao xao nhưng mau trở về vị trí cũ. Lại cũng may là có gió. Những cơn gió đồng lõa với những tiếng xào xạc của cỏ làm sự di động của chị khó ai nhận biết. Cỏ lại cao nên chị chỉ “đi” được vài “bước” là đã mất dấu. Đoạn đường ngắn ngủi nhưng thời gian chờ đợi thì lại thật dài. Sau cùng, Nhung và Thảo cũng nghe được tiếng cửa mở rít lên. Đến lúc ấy, Thảo mới hoàn hồn, cô nhích lại gần Nhung. Hai tiếng thở phào cùng vang lên một lượt.
- Tội nghiệp bà Thanh. Nhung biết không, sợ quá, bà ấy… bà ấy…
Nhung không nói, gật đầu thông cảm.
Chuyến đi ấy vẫn không thành. Nhung chán nản tính bỏ cuộc. Nhưng mỗi lần nhận thư và tiền Lâm gởi về cùng những lời bóng gió giục giã là Nhung lại nôn nả tìm mối này, mối nọ. Liên tiếp trong ba tháng Nhung nhận cả chục lá thư của Lâm làm nàng càng thêm bấn loạn. Nàng thương nhớ Lâm nên rất mong đi được để gặp lại chàng. Lâm và Nhung yêu nhau từ hồi nàng còn học trung học và được cả hai gia đình chấp thuận. Lâm bị động viên, vừa ra trường khóa Trừ Bị Thủ Đức và Nhung vừa học xong sư phạm chưa kịp cưới thì mất nước. Tuy vậy, Lâm cũng phải đi học tập gần ba năm. Đến khi gia đình Lâm chưng đủ bằng chứng quốc tịch Pháp và đút lót khá nhiều Lâm mới được thả về.
Lâm theo gia đình xuất ngoại do sự can thiệp đặc biệt của toà đại sứ Pháp ngay sau đó. Trước khi Lâm đi, họ đã đính hôn. Nếu không vì lập gia đình mà Lâm phải ở lại thì họ đã làm đám cưới. Mẹ Lâm dù thương Nhung nhưng bà lại không muốn con trai bà bị kẹt lại trên mảnh đất có một chế độ quá ư quái gở này. Bà khuyên Lâm nên đi trước rồi tìm đường cho Nhung qua sau vì như thế vẫn dễ hơn. Lâm vâng lời mẹ vì chàng nhận thấy mẹ chàng có lý.
Khi đến nơi, Lâm liên lạc ngay với các cơ quan liên hệ. Ở đâu Lâm cũng chỉ được trả lời là chưa có chương trình bảo lãnh cho vợ chưa cưới. Lâm thì chưa đủ điều kiện và thời gian định cư cần thiết để có thể về cưới Nhung mà đem nàng đi được. Hoặc nếu có thì ngày ra đi của Nhung cũng trong vòng chờ đợi và không ai biết là chờ đợi đến bao giờ. Thấy Lâm buồn, gia đình cũng như bạn bè Lâm bàn với chàng rằng đề nghị Nhung vượt biên. Bàn đi tính lại thì Lâm thấy chỉ có cách ấy là hay hơn cả. Mặc dù nguy hiểm thật nhưng nhiều người làm và đã thành công. Thế là dự định được thi hành.
Thư và quà ngoại quốc gởi về đều chịu sự kiểm soát rất gắt gao. Có khi Nhung nhận lá thư đã bị bóc ra mà cũng không dám kêu ca gì. Để qua mặt được sự kiểm soát đó, Lâm và Nhung phải viết cho nhau bằng những mật mã đã dặn nhau từ trước và chỉ có họ mới biết được là họ muốn nói gì. Đọc thư Lâm, Nhung hiểu là Lâm muốn nàng tìm cách ra đi. Mỗi lần nghĩ đến đi, Nhung lại ngần ngại và xót xa thương cha mẹ. Ông bà Đức chỉ có hai người con, Hải và Nhung. Như bao thanh niên cùng lứa tuổi, Hải đang ở trong trại cải tạo. Rã ngũ chạy về, Hải đem vợ con về nhà cha mẹ. Khi trình diện học tập cải tạo, chàng thật thà tin tưởng rằng chỉ có mười ngày như lời họ nói. Chàng an ủi vợ:
- Em ạ, mười ngày thôi thì cũng chẳng nhiều nhặn gì. Em và con cứ an tâm ở với ba mẹ. Anh về rồi mình tính.
Thế mà gần năm năm rồi vẫn chưa thấy Hải trở về. Ông bà Đức thương con, thương dâu, thương đàn cháu ngoan bốn đứa nên đầu ông cứ bạc thêm, mắt bà cứ yếu thêm vì khóc. Chút tiền bạc dành dụm được của những ngày ông làm cán sự ở bịnh viện từ từ biến thành quà thăm nuôi cho con trai, bù đắp cho bày cháu nhỏ. Hạnh, vợ Hải, dù có giỏi giang tần tảo thì cũng chỉ kiếm thêm rau mắm giữa thời buổi gạo châu củi quế. May mà bà Đức còn khoẻ mạnh, săn sóc được cho lũ trẻ để Hạnh rảnh rang buôn bán. Còn ở nhà, Nhung còn giúp đỡ cha mẹ lo cho bày cháu chút đỉnh, nhưng nếu Nhung đi, bà Đức sẽ mất đi một cánh tay và chắc chắn là sẽ buồn hơn nữa. Nhưng nếu nàng đi được, nàng sẽ có điều kiện giúp cha mẹ và chị dâu được nhiều hơn. Ấy là chưa kể sau này biết đâu nàng chẳng bảo lãnh được cho ông bà Đức. Người ta chẳng vẫn đồn rằng có con cháu đi ngoại quốc là sẽ có cơ hội bảo lãnh cho gia đình, cho cha mẹ là gì. Cứ như thế, Nhung với trăm ngàn nỗi suy tính thiệt hơn, cộng với sự hối thúc của Lâm làm Nhung như điên lên được.
Cuối cùng, Nhung cũng vượt khỏi hải phận VN. Qua một đêm lắc lư theo tàu mệt lả, đến trưa hôm sau thì ai cũng ngất ngư. Sóng cấp bốn và mưa như trút. Chủ tàu nói phải ra đi vào lúc thời tiết xấu như thế thì mới có nhiều hy vọng thoát được sự kiểm soát gắt gao của bọn công an biên phòng. Phải liều mới được!
Xế chiều hôm sau thì trời ngưng mưa nhưng mây vẫn âm u dày đặc và gío vẫn dữ dằn. Một số đàn ông gốc hải quân hoặc đi biển đã quen, ít say sóng hơn nên đã dắt dìu vợ con, anh em họ lên khỏi hầm tàu. Gần phân nửa là đàn bà trẻ con. Họ nằm ngồi la liệt trong lòng tàu và ói mửa lên nhau. Số người quá say sóng, không lên trên được, nằm lịm trong hầm tàu có cả Nhung. Ở đây, nước biển, dầu máy, và các thứ từ trong bao tử cho ra trộn lẫn vào nhau thành một thứ nước bầy nhầy, đen ngòm, nồng nặc, hôi hám và dơ bẩn. Vũng nước ấy giận dữ xô đẩy nhau theo sự lắc lư nhiều ít của con tàu và đôi lúc chồm tới, phủ lên tóc, lên mặt, thấm vào quần áo những người nằm lại không chút xót thương. Đã thế, những gì có được từ trong bao tử của những người ở phía trên cũng đều cho ra sạch sẽ. Những thứ ấy hoà cùng nước tiểu khai nồng của người lớn cũng như trẻ con đã len qua kẽ ván lòng tàu chảy cả xuống đầu, xuống mặt, xuống quần áo những người ở dưới. Cũng may mà Nhung quá say sóng để không biết thế nào là dơ bẩn, nếu không, trong hoàn cảnh đó, chắc Nhung cũng đến chết đi vì ghê sợ.
Tàu đi được hai đêm một ngày thì sóng bắt đầu êm. Sang ngày thứ ba, bầu trời trong lại. Người trên tàu đã hết ói nhưng vẫn nằm như cá hộp. Nhung cũng đã lên được khỏi hầm. Quần áo Nhung đã khô đổi màu lem luốc và cứng nên mỗi khi cử động kêu lên sột soạt. Mái tóc dài óng ả của Nhung không còn óng ả nữa mà dính bết lại từng chùm. Nhung đưa tay vuốt, nàng có cảm tưởng như chạm phải những sợi dây thừng ẩm. Một chất dinh dính bám vào tay làm Nhung thấy ghê ghê, nhờn nhợn.
Nhung không thấy đói, chỉ thấy dã dượi, mệt và khát nước. Mọi người chuyền tay nhau bình nước bằng nhựa và mỗi người chỉ được uống mỗi lần một cái nắp bình đầy và uống ba lần một ngày để cầm chừng.
Đầu óc trống rỗng, mệt mỏi, Nhung ngồi dựa lưng vào thành tàu nhìn ra biển cả. Trước mặt nàng bát ngát một màu xanh thật đẹp. Nắng buổi sáng rực rỡ long lanh trên mặt nước. Không có đường chân trời mà biển và trời là một màu xanh hài hoà kỳ diệu. Ở tận cùng tầm mắt, biển và trời như nối liền lại với nhau. Biển quá đỗi hiền hòa. Hiền hòa như chưa từng bao giờ có sóng. Biển như một hồ nước mênh mông xanh thẳm với mặt hồ gợn sóng lăn tăn. Biển với hai cánh tay bao dung ôm lấy con tàu như hai cánh tay mẹ hiền dang ra đón lấy đứa con với vô vàn yêu dấu. Biển nên thơ và trong lành vô tội. Biển thật đầy, thật đẹp. Đẹp như tình em cho anh đấy, Lâm ơi. Nghĩ đến Lâm, Nhung thấy lòng êm hẳn lại. Cuối cùng, em đã bỏ hết để ra đi. Em sắp gặp được anh rồi Lâm ạ. Nhưng cũng vừa nghĩ đến đây niềm vui vừa tới đột nhiên biến mất. Nhung chợt thấy lòng mình buồn bã. Ồ, thật thế sao? Có phải mình đã thật sự rời khỏi quê hương mình sao? Mình rời xa cha mẹ mình thật rồi sao? Ơi… Mẹ, một người mẹ hiền hoà cả đời nhẫn nhục hy sinh cho chồng con. Đời mẹ như không có niềm vui riêng và chỉ lấy niềm vui của chồng của con làm niềm vui của mình. Ơi… Cha, một người cha hiền lành lúc nào cũng thương yêu gia đình rất mực. Lúc nào cũng tiện tặn phần mình để nhường đồng lương bé nhỏ của mình cho no con, đủ vợ. Ơi… những đứa cháu ngoan ngoãn dễ thương luôn luôn chạy theo gọi “cô Nhung, cô Nhung….” Ơi… bạn bè, ơi tuổi xanh và ơi kỷ niệm! Nói đến kỷ niệm, Nhung lại nhớ da diết chiếc bàn học cũ với bao buồn vui của phần đời. Đó là chiếc bàn cũ kỹ kê ở góc phòng từ những ngày còn là học trò cho đến khi là cô giáo. Những buổi tối học thi, và lá thơ tình vụng dại đầu đời được Nhung viết viết, xé xé trên chiếc bàn đó. Cũng chiếc bàn đó những lúc Lâm đến thăm, hai người đã ngồi hằng giờ tâm sự. Những chồng vở đem từ trường về cũng được chấm trên đó. Những đêm soạn bài khuya cũng trên bàn đó và những thư từ của Lâm cũng được xếp gọn gàng trong ngăn kéo đó…Tất cả đã xa thật rồi sao? Ôi… Việt Nam…. Việt Nam, một mảnh đất thân yêu nhưng cũng đầy đau khổ. Đến bao giờ… có bao giờ mình được trở lại quê hương tội nghiệp của mình không? Ngôi trường với khuôn sân rộng và bốn cây phượng đầy hoa đỏ ở bốn góc sân mỗi độ hè về….hình ảnh và khuôn mặt từng đứa học trò xinh xắn, dễ thương cứ chờn vờn trong trí tưởng…Thật thế không? Từ đây, tất cả chỉ còn là dĩ vãng? Đôi mắt Nhung cay sè. Cơn đau ập đến và Nhung thấy lòng mình xót xa chìm đắm vào nỗi tiếc thương. Bất chợt, nàng nghĩ đến mấy câu thơ:

Ngoái nhìn quê cũ lòng đau
Bao hải lý, bấy nhiêu sầu, nước ơi
Mênh mông những biển cùng trời
Một ranh trời biển chia đôi muôn trùng…
Người bên ấy nhớ ta không ?

Ba ơi, Mẹ ơi, phương ấy ba mẹ có nhớ con không? Còn con, con nhớ ba mẹ lắm. Cu Bi, cu Tèo, bé Nhè, bé Mũm ơi, cô nhớ các bé quá. Chị Hạnh ơi, em nhớ chị. Chị về làm dâu ba mẹ thì em mới bắt đầu học lớp Đệ Lục. Chúng ta là chị dâu em chồng mà thương nhau như chị em ruột. Chị có nhớ những lần em nấu canh mặn, cơm khô bị mẹ trách, chị nhận cho em không? Chị có nhớ lúc em mới quen Lâm, ba bảo em còn nhỏ, cấm em. Nhớ Lâm quá em buồn ngơ ngẩn. Chị tội nghiệp, hẹn Lâm đến nhà bạn chị và xin phép ba mẹ cho em đi chơi với chị để em gặp Lâm không? Ôi… bao giờ… bao giờ em mới lại về. Bao giờ gia đình ta mới lại đoàn tụ như xưa? …
Mặc cho những giọt lệ theo nhau tràn xuống má, Nhung thấy mặn ở môi nhưng không buồn lau nước mắt. Chưa lúc nào Nhung thấy bơ vơ, nhỏ bé và bất lực như lúc nàỵ Nàng cảm thấy một mất mát quá lớn lao và lòng tràn đầy đau khổ. Giá của hai chữ Tự Do quá lớn. Nàng phải đánh đổi bằng cả tình thương yêu và sự đoàn tụ của một gia đình. Biển xanh vẫn đẹp nhưng nàng không còn cảm thấy vẻ đẹp của nó nữa. Tự nhiên, nàng cảm thấy một nỗi tức giận trào dâng. Nàng giận cho chế độ tham tàn để Lâm và nàng phải ra đi. Nàng giận luôn cả biển. Giận bọn người dã man làm đất nước đau thương thì nàng hiểu được nhưng giận biển thì thật là phi lý. Nàng biết mình vô lý nhưng không thể phân tích. Ừ, đúng rồi. Cũng biển. Biển đã đưa mình đi xa để không còn được ở bên những người yêu dấu. Biển đã chôn sống biết bao người dân Việt Nam vô tội. Biển làm bộ hiền lành để che giấu dữ dằn nghiệt ngã của sóng gió thê lương. Biển giả dối lắm. Giả dối như những con người từng khoe là nhân đạo, từng khoe là chiến thắng. Họ chiến thắng gì và chiến thắng ở đâu? Ừ, thì cứ cho là họ chiến thắng như họ khoe đi nữa nhưng thật sự trong tình cảm và lý trí người dân trên mảnh đất bị họ chiếm đoạt kia, họ hoàn toàn chiến bại. Nếu không, sao bao người phải bỏ họ mà đi? Bởi họ, chính họ. Họ chứ không phải biển. Họ là nguyên nhân của sự chia lìa.Họ là nguyên nhân của những cái chết đau thương tức tưởi. Càng nghĩ, Nhung càng cảm thấy nỗi đau lớn quá. Bên cạnh nỗi nhớ thương cha mẹ, ý nghĩ về những kỷ niệm thân yêu bỗng chốc trở thành quá khứ làm Nhung như người bị rơi vào khoảng chân không. Dù có chuẩn bị tinh thần cách nào đi nữa, Nhung cũng vẫn không thể chấp nhận mau chóng một đổi thay mất mát to lớn quá trong đời. Bây giờ, Nhung mới hiểu rằng tại sao lúc trước nhiều người đã bước xuống tàu rồi mà bỏ cuộc. Rằng tại sao ngày 30/4 có những con tàu đã ra đến hải phận quốc tế mà sau đó lại trở lại nơi họ nhổ neo. Và chính Nhung, nàng đã mất bao nhiêu tiền bạc, công sức để chỉ mong cuộc vượt trốn thành công. Nay, những giờ phút kinh hoàng nguy hiểm đã qua và con tàu đang tiến về miền đất hứa thì cớ sao lòng nàng lại không vui? Nhung sắp gặp lại Lâm rồi mà. Trước khi đi, Nhung vẽ cho mình bao nhiêu là hình ảnh mộng mơ hạnh phúc khi vượt thoát. Chẳng phải là Nhung từng ước mong được Lâm ôm chầm lấy bằng hai cánh tay thương yêu của chàng và Nhung sẽ khóc trong lòng chàng cho thỏa niềm thương nhớ đó sao? Chẳng phải là ai cũng ôm mộng ra đi, dù biết rằng đi như thế cái chết rình rập và có thể đến với họ bất cứ lúc nào đó sao? Những ý nghĩ miên man mâu thuẫn cứ thi nhau chiếm trọn tâm hồn Nhung. Nàng cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Nghĩ đến sự tàn bạo của những con người CS, Nhung lại thầm cảm ơn Thượng Đế đã đưa con tàu ra khỏi hải phận Việt Nam, đã đưa nàng rời xa quê hương khốn khổ. Niềm vui dù to lớn thật nhưng vẫn không đủ làm tan đi bao xúc cảm buồn đau của kẻ phải rời bỏ những gì thân yêu nhất. Chưa bao giờ Nhung thấy thấm thía về ý nghĩa của hai chữ QUÊ HƯƠNG như lúc nàỵ Cũng như gia đình, quê hương là một thực thể hiện hữu mà ai cũng có từ lúc chào đời. Vì thế, những hình ảnh gia đình, quê hương đã thấm vào dòng máu, hoà tan trong hơi thở và gắn bó với tâm hồn. Có xa quê mới thấy quê hương là một nơi chốn con người đặt bao tình cảm thiêng liêng và thương nhớ khôn nguôi. Bởi thế nên qua bao nhiêu thế hệ, các bậc anh hùng liệt nữ trong lịch sử VN đã chẳng ngại ngần hy sinh cả mạng sống mình cho quê hương đó sao. Thế mà từ nay, với Nhung, quê hương chỉ còn trong trí nhớ vì đã xa cách ngàn trùng. Nhung biết là mình đã có cái may vượt thoát khỏi gông cùm cộng sản. Đúng. Trên một phương diện nào đó và chỉ ở một phương diện nào đó thôi, nàng đã vượt thoát. Nhưng cùng một lúc, nàng chìm đắm và không thể vượt thoát đươc sự tù đày của dằn vặt nhớ thương.
Một vệt sóng dài nối cái đuôi tàu với miền xa tắp rồi chìm trên mặt biển. Cuối vệt sóng đó là quê hương. Quê hương mỗi lúc một xa và mịt mùng trong màu xanh của trời, của biển. Lòng ngổn ngang mâu thuẫn, Nhung thấy xót xa thương những người không may mắn còn ở lại và thương cả kẻ may mắn đã ra đi. Càng nghĩ, càng buồn. Nhung ngôì bất động, dựa lưng vào thành tàu, hai cánh tay vòng lại ôm lấy hai đầu gối như cố giữ lại chút hình ảnh cuối cùng. Nàng vẫn nhìn thẳng nhưng không còn thấy rõ màu tươi xanh của biển trời trước mặt. Mắt Nhung lại mờ đi. Hình như những dòng nước mắt lại âm thầm chảy dài trên má và Nhung lại cảm thấy mằn mặn ở một góc môi.
 

 

Dạ Khúc Tháng Sáu 27, 2008

Dạ Khúc
                                                                           
Sơn Trung

Xa em ngày tháng trùng dương
Hồn anh mảnh gỗ trầm hương đêm dài.
Đồi thông khuất ánh sao rơi,
Nghe buồn thác đổ chảy xuôi ven rừng.
Sương khuya tiếng khóc côn trùng,
Nỗi buồn cỏ úa hoài mong em nhiều.u,
Anh ôm giấc ngủ buổi chiều hoang vu.
Hôm nao thành phố gĩa từ,
Nụ cười thành phố tâm tư u buồn.
Bây giờ cách trở hoàn
Hồn anh lữ khách mỏi mòn nhớ em.

 

Những Nghi Vấn Trong Vụ Việt Cộng Tấn Công Mậu Thân (1968) Tháng Sáu 26, 2008

Những Nghi Vấn Trong Vụ Việt Cộng Tấn Công Mậu Thân (1968))

 
Sơn Trung

 
Cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân đã đưa lại cho chúng ta nhiều nghi vấn. Chúng tôi xin trình bày sơ lược dư luận quần chúng thời đó qua những điểm sau:

 
1. VNCH và Mỹ có biết trước không ?

 
Trước Tết Mậu Thân, Việt Nam cộng hòa và Việt Cộng đã đồng ý ngưng bắn 36 giờ kể từ đêm giao thừa (30-1-1968)). Bên ta đã thực hiện lời cam kết. Một nửa quân số đã được nghỉ phép ăn tết.Trong khi đó VC chuẩn bị cuộc chiến rất chu đáo

 
a. Theo quần chúng Huế, mấy tháng trước tết Mậu thân, Việt cộng đã cho người về Huế mua thuốc men, gạo muối, và mua rất nhiều vải nylon. Thứ nylon này dùng để che mưa, bọc thuốc men, đạn dược, dùng để lội sông…Ở các địa phương miền Trung và mìền Nam, việc chuấn bị cũng sôi nổi không kém.

 
b.Trên báo chí, đài phát thanh, cộng sản cũng đã tỏ rõ ý muốn xâm chiếm miền Nam. Đầu năm 1967, cộng sản đã mở nhiều cuộc tấn công trên lãnh thổ miền Nam như Lộc Ninh,Khe Sanh,Dakto,và Cồn Tiên.. .Họ đã đưa ra kế hoạch tổng công kích,tổng khởi nghĩa.Nghị quyết 13 tháng 3 năm 1967 của trung ương đảng kêu gọi:Đồng khởi để giành thắng lợi quyết định trong thời gian càng ngắn càng tốt. (1)

 
c.Khoảng cuối năm 1967, quân ta hành quân ,bắt được nhiều tài liệu nói về tổng tấn công. Các tù hàng binh cộng sản cũng cho ta biết sẽ có việc tổng tấn công.(2)

 
Theo những sĩ quan VNCH, họ đã báo cáo tình hình lên cấp trên,nhưng có lẽ cấp thẩm quyền đã không tin là VC sẽ tấn công . Có lẽ VN và Mỹ thiếu khả năng phán đoán chính xác .

 
Những lý do sau đây cho phép ta nghĩ rằng VNCH và Mỹ biết tin CS chuyển quân nhưng không tin rằng VC tấn công :
- Họ tin vào hiệp ước đình chiến với CS
- Các sĩ quan và binh sĩ được về nghỉ Tết khoảng một nửa quân số.
- Nguyễn Văn Thiệu về quê ăn tết tại Mỹ Tho
- Sĩ quan Mỹ tại Sài gòn rất ngạc nhiên ” khi thấy địch có khả năng mở một cuộc tổng công kích vào những thành phố” (3)

 
Họ ngạc nhiên thật sự hay gỉả đò ngạc nhiên ? 

 
Mỹ với phương tiện khoa học như tia laser có thể nhìn suốt mọi vật trong ban đêm,lẽ nào trong những chuyến bay tuần thám ,họ không thấy gì hết hay sao, nhất là ở đường mòn Hồ Chí Minh ?

 
Hoặc là người Mỹ biết nhưng giả như không biết ? Tại sao ?

 
2. Tại sao ban đầu người Mỹ im lặng ?

 
Qua ý kiến của binh sĩ cộng hòa và đồng bào khắp nơi, mấy ngày đầu quân VC không tấn công đồn Mỹ và các cơ quan Mỹ, và quân Mỹ cũng giữ thái độ tọa thủ bàng quan, khoanh tay nhìn hai phe đánh nhau ngoại trừ tại Sàigon , VC đã tấn công tòa đại sứ Mỹ trước tiên. Tài liệu của Khối Quân Sử viết :

 
Địch không đánh cơ quan nào của Hoa Kỳ ngoại trừ đánh tòa đại sứ Hoa Kỳ. (4) .

 
Chúng ta có vài tin tức tiêu biểu :

 

 

Thành phố Ngày giờ CS tấn công
VNCH
Ngày giờ CS tấn công
Mỹ
HUẾ  Mồng hai Tết Mồng 4 Mỹ giải tỏa xung quanh khu MACV
QUẢNG TRI bốn giờ sáng mồng hai Chiều VC bắn vào MACV
ĐA NẴNG Đêm 30 Mồng một Mỹ giải tỏa khu Quảng Đà
KONTUM Đêm 30 Mồng hai Mỹ giải tỏa
BAN MÊ THUÔT  Đêm 30 Mồng 2 đánh MACV (5)

 
Có lẽ sau vì VC phản bội mật ước hoặc thấy quân Cộng Hòa chiến đãu anh dũng ,họ mớI phản công Việt Cộng. Có lẽ Việt Cộng muốn đánh một trận để đời hoặc muốn bắt sống hoặc giết đại sứ Mỹ ! Điều nhận xét này đúng không ? Nếu đúng , ta sẽ có nhiều câu hỏi :
a. Mỹ đem quân sang giúp VNCH, hai bên đã cùng sát vai chiến đãu chống cộng.Tại sao, nay VC sờ sờ trước mắt, quân Mỹ lại khoanh tay nhìn ?
Nhiều người đặt giả thuyết rằng có lẽ quân Mỹ muốn chờ xem tình hình quân VNCH ra sao đã. Nếu như quân VNCH rã ngũ, quần chúng nổi dậy theo cộng sản, có lẽ họ sẽ buông tay luôn. Sau họ thấy quân ta tuy bị đánh bất ngờ, quân số ít mà vẫn chiến đãu dũng mãnh, cho nên họ mới phản kích.

 
Một số cho rằng vì VNCH cương quyết không chịu hòa đàm với CS nên Mỹ để mặc cho CS tấn công.(6)

 
Cũng có giả thuyết cho rằng Mỹ im lặng, quân VNCH cứ cho binh sĩ nghỉ tết là có ý dụ địch để diệt địch .Một vị sĩ quan cao cấp VNCH ở Thừa Thiên đã tuyên bố như vậy. Ông nói thực hay nói chơi ?

 
Giả thuyết trên không vững vì chúng ta thấy cả hai phía Mỹ và CS lúc đầu đều bất tương xâm.

 
b.Phải chăng hai bên có một mật ước ? Nếu có, mật ước đó như thế nào ? Và ai đã xé rào trước , Mỹ hay VC? Tại sao ?

 
3.Ai đã lãnh đạo cuộc tổng tấn công mậu thân ?

 
Nhiều tài liệu kể cả tài liệu Mỹ và VNCH đều cho rằng Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo cuộc tấn công này. Sự thực, suốt đời ông Giáp chỉ làm bù nhìn, làm cha hờ. Ông Giáp không phải là một tướng giỏi. Ông nổi danh là do sự tuyên truyền của CS và gặp thời. Ông nổi danh từ trận Điện Biên Phủ, nhưng sự thực tướng Giáp chỉ là một bù nhìn vì mọi sự bên trong đều do Trung quốc lãnh đạo. Các tướng Trung quốc như Vi Quốc Thanh soạn thảo kế hoạch,Trần Canh,tư lệnh chiến trường, với 20 ngàn quân Trung cộng. Cuộc chiến Điện Biên Phủ là một cuộc thử thách giữa Trung cộng và Pháp. Sau khi thâu phục Trung Hoa lục địa, Trung cộng muốn mở rộng ở hai phía bắc và Nam. Cộng sản và quốc gia chỉ là quân cờ trong trận chiến quốc tế.

 
Trận chiến 1975 cũng vậy. Trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân ấn bản đầu tiên ghi tên Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng, nhưng qua ấn bản hai, chỉ có tên Văn Tiến Dũng. Nay trận mậu thân có lẽ không do Võ Nguyên Giáp lãnh đạo bởi vì từ khi Lê Duẩn lên làm Tổng bí thư, Võ đại tướng đã không còn nguyên giáp (7)

 
Dường như trước thời gian mậu thân, Võ Nguyên Giáp đi Mạc Tư Khoa ((8)) . Phải chăng ông bị Duẩn Thọ đẩy ông ra khỏi cuộc chơi ? Nếu ông có tham dự cuộc bàn luận chiến trận, ông cũng chỉ là khách bàng quan.

 
Người nắm chủ chốt có lẽ một người khác. Ngoài Duẩn Thọ, phải chăng Nguyễn Chí Thanh mới là người lãnh đạo cuộc chiến ?

 
Chúng ta nói đến Nguyễn Chí Thanh vì những nguyên nhân sau:

 
a.Theo Nguyễn Văn Trấn , Duẩn Thọ có âm mưu lật đổ ông Hồ và đưa Nguyễn Chí Thanh lên làm chủ tịch nước.(9)
b.Nguyễn Chí Thanh lãnh đạo cuộc chiến tranh tại Miền Nam.
c.Nguyễn Chí Thanh có mặt tại Hà Nội trong năm 1967 có lẽ là để bàn luận chiến lược chiến thuật với Duẩn Thọ.
d.Trong một bài phát biểu, Tố Hữu đã nói rằng Nguyễn Chí Thanh có công lớn trong sách lược tấn công mậu thân và ông tỏ lòng thương tiếc Nguyễn Chí Thanh đã không sống thêm để hưởng thành quả của trận đánh này.

 
Nhưng sau đó Nguyễn Chí Thanh chết. Phải chăng ông bị sụp hầm mà chết vì B52 của Mỹ tại Tây Ninh trong tháng 2 – 1967 theo tin đồn ở miền Nam ?

 
Hay ông cũng như Phạm Hùng bị nhồi máu cơ tim mà chết ở Hà Nội ngày 6-7-1967 như đảng tuyên bố ? Hay ông bị chân tay ông Hồ hạ độc thủ tại Hà Nội hay tại Miền Nam?

 
Theo thiển kiến, làm sĩ quan cấp tá CS là bảo đảm lắm rồi huống hồ cấp tứơng kiêm bí thư trung ương cục miền nam! Tưóng cộng sản bao giờ cũng ở trong an toàn khu, không bao giờ ra mặt trận dù là đi thanh sát như tướng Mỹ và VNCH. Lúc bấy giờ những tên CS gộc thường ở trong đất Miên cho nên tin đồn bị B52 mà chết có lẽ sai lầm.

 
Nếu Nguyễn Chí Thanh còn sống, sau trận mậu thân, có lẽ Duẩn Thọ sẽ đánh bóng ông, đưa ông lên thay thế ông Hồ. Nhưng than ôi !
Chúng ta nên biết rằng để chuẩn bị lật đổ ông Hồ, Duẩn Thọ đã triệt hạ phe cánh ông Hồ ,ông Giáp như Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Hoàng Minh Chính.. . Lẽ dĩ nhiên, phe ông Hồ cũng phản công lại !Và Nguyễn Chí Thanh phải chết !

 
Dù ai lãnh đạo cuộc chiến, trận mậu thân là một thất bại nếu so với Điện Biên Phủ:

 
-Điện Biên Phủ là trận chiến giữa quân đội với quân đội, ở một nơi xa dân chúng, còn trong trận mậu thân, cộng sản đưa chiến tranh vào nhân dân,gây đổ nát ,tang thưong cho dân chúng. Cộng sản đã sát hại thường dân vô tội.Trận mậu thân chỉ làm dân chúng căm thù cộng sản.
-Điện Biên Phủ đã làm Pháp thất trận dù Cộng sản Trung quốc và cộng sản Việt Nam đã tốn nhiều xương máu và tiền của. Trái lại trận mậu thân, VC bị đánh bại, tổn thất nặng nề về nhân mạng và cơ sở.

 
4.Cộng sản quốc tế đã làm gì trong vụ mậu thân ?

 
Ai cũng biết trong thời chiến tranh VN, Mỹ đã tốn khoảng 10 tỷ mỹ kim và sử dụng nửa triệu quân tại Việt Nam. Ai cũng nghĩ rằng VC một mình đánh với VNCH và Mỹ, và họ tự hào về tinh thần độc lập của họ. Và dân chúng VN đa số nghĩ vậy vì:

 
-Không nghe radio, không thấy báo chí nào nói về sự viện trợ sức người, sức của của phe Cộng sản quốc tế trong khi đó tin tức viện trợ Mỹ được phổ biến tại quốc hội,báo chí, đài phát thanh ầm ĩ từng chi tiết !
-Không ai thấy lính Trung quốc, lính Cu Ba, Liên Xô đi ngoài đưòng như Mỹ đen, Mỹ trắng ở miền Nam.

 
Sự thực ,khối CS quốc tế viện trợ cho VC rất nhiều.

 
Trước đây, qua đài Bắc kinh, Hoàng Văn Hoan đã cám ơn Trung quốc đã chi viện tận tình cho nhân dân Việt Nam chống Mỹ. Nếu Mỹ viện trợ cho VNCH khoảng 10 tỷ mỹ kim với nửa triệu quân thì Trung Hoa cũng viện trợ tương tự cho Bắc Việt.

 
Gần đây, chúng ta được tin quân Bắc Hàn cũng sang VN chống Mỹ. Vậy quân Liên Xô, Cu Ba,Hung, Tiệp khắc … là bao nhiêu ? Họ làm gì, ở đâu ? VNCH và Mỹ có biết không ?

 
Tài liệu khối Quân Sử VNCH cho biết tháng 10-1967, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh ghé Bắc kinh trên đường sang   Mạc Tư Khoa dự lễ kỷ niệm 50 Cách Mạng Nga, nhưng sự thực là đi cầu viện . Băc kinh đề nghị giúp 100 ngàn binh sĩ, 200 ngàn nhân viên giữ đường sá và thiết lộ,Giáp không nhận quân đội và nhân viên. Bắc kinh hứa giúp đỡ hỏa tiễn mới 107 ly và 240 ly.  Mặc Tư khoa hứa giúp xe tăng và các vũ khí khác. (10)
Cọng sản bao giờ cũng che dấu sự thực. Họ nói không nhận nghĩa là nhận.

 
So sánh sự viện trợ của hai phe, chúng ta thấy :
- cộng sản kín đáo hơn.
- Tế nhị hơn
- Tận tình hơn.
- Vũ khí tối tân hơn: trong khi binh sĩ VNCH sử dụng Garant , Carbine thì cộng sản sử dụng AK Tiệp khắc vừa nhẹ vừa chính xác.. .Pháo CS bắn xa hơn, xe tăng cộng sản mạnh hơn.. .

- Quân sĩ cộng sản chiến đãu thường trực tại mặt trận, còn quân Mỹ một số nghỉ phép tại Saigon, Huế, Hawai hay Hongkong, Mỹ..
Tuy nhiên, bên cộng sản chỉ viện trợ quân sự, ít viện trợ kinh tế.
Mỹ có biết vũ khí ta yếu hơn CS không ? Tại sao Mỹ viện trợ đồ cũ như thế ?
Phải chăng Mỹ không biết gì về sự giúp đỡ lớn lao của Nga Tàu và đàn em cho Việt cộng. Nếu không tại sao sau mậu thân, tướng Westmoreland báo cáo quân số VC bị tiêu diệt , Ngũ giác đài cho là sai lầm. Ngũ giác đài cho rằng nếu quân VC bị giết nhiều như thế ,sau 1968, VC không đủ sức mở các cuộc tấn công lớn vào miền Nam. Mỹ lý luận như thế, vì không biết:
- VC luôn có quân trừ bị để bổ sung cấp thời.Đó là dân quân, là bộ đội điạ phương như chủ lực xã, chủ lực huyên, chủ lực tỉnh..
- VC bắt trẻ con và phụ nữ bổ sung chiến trường.
- VC được quân cộng sản quốc tế viện trợ mạnh mẽ , vượt trội VNCH và Mỹ về quân số và vũ khí.

 
5.Tại sao Ông Hồ chết ?

 
Ông Hồ chết ngày 2-9-1969, sau tết mậu thân hơn một năm, thọ 79 tuổi. Phải chăng ông chết bệnh như trung ương đảng đã loan tin ? Phải chăng cái chết của ông có liên quan đến vụ mậu thân ?
Trong vụ mậu thân, đồng bào Huế được VC tuyên truyền là Hồ chủ tịch sẽ vào thăm đồng bào Miền Nam .Ông có vào Huế không hay chỉ là xạo ?
Có thể ông không vào Huế nhưng nghe tin mậu thân thất bại,ông buồn mà chết ?

Chúng tôi trình bày những thắc mắc trên, xin quý vị có thẩm quyền trả lời để làm sáng tỏ lịch sử.
                                                           

Sơn Trung
CHÚ THÍCH
____________
1.Nguyễn Đức Phương, Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh Việt Nam 1963-1975,
Đai Nam, Mỹ,1993,tr.34
2.như trên.
3.Phạm Văn Sơn, Lê Văn Dương,Cuộc Tổng Công Kích Tổng KhởI Nghĩa của Việt Cộng mậu thân 1968. Khối Quân Sử,Trung Tâm Ấn Loát Phẩm,1968,tr.30
4.như trên,tr.53, 269.
5.như trên,tr.50, 278
6.như trên,tr.269,30
7.Câu đối truyền tụng trong nhân dân:
Ba mươi năm chinh chiến, Võ đại tướng nay không còn nguyên giáp,
Một cuộc đời dựng nước, Bác Hồ giờ hết cả chí minh
8.Lê Văn Dương,sđd,tr.27
9.Nguyễn Văn Trấn, Viêt Cho Mẹ Và Quốc HộI, Văn Nghê.CA,1995,tr.220-320.
10.Lê Văn Dương,sđd,tr.27.

 

 

Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục Tháng Sáu 26, 2008

 

Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục
                                                   

Gia Hội
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã mất lúc 16 giờ chiều ngày thứ tư 2-6- 1999 tại tư thất ở Việt Nam, hưởng thọ 92 tuổi.Lễ an táng đã cử hành ngày chủ nhật  6- 6- 1999.
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục sinh ngày 24 tháng 8 năm mậu thân giờ hợi, tức ngày 19 tháng 9 năm 1908  tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, tự là Thúc Thủy,hiệu Vân Sơn, thụy Phúc Đạo. Giáo sư sinh trưởng trong một gia đình nho giáo và khoa bảng.

Thuở nhỏ học trường làng, sau theo học Albert Sarraut , Hà Nội. Năm 19 tuổi
( 1927), giáo sư du học Pháp, Bỉ và Thụy sĩ. Năm 1928-1929 đậu tú tài toàn phần ban Triết và ban Toán  ưu hạng ở Marseilles rồi theo học kỹ nghệ và khoa học tại Ecole Nationale des Arts ở Roubăis, bắc Pháp quốc, và đậu kỹ sư hóa học. Năm 1934, giáo sư trở về nước viết báo và làm việc tại nhà máy dệt Nam Định. Khi du học, giáo sư đã dự các lớp  triết học Đông phương tại trường đại học Sorbonne. Trong khi làm  việc tại nhà máy dệt Nam Định ,giáo sư đã nghiên cứu triết học Đông phương. Lúc này, giáo sư đã viết các tác phẩm như :
 Bình giải Đại Học
 Tinh thần Khoa Học và Đạo Học
( Một số tác phẩm của giáo sư đã được tái bản tại hải ngoại.)
Năm 1950, trường Đại Học Văn Khoa đầu tiên được thiết lập tại Hà Nội, do cụ Cử Nhân Hán học Ngô Thúc Địch làm khoa trưởng,giáo sư Nguyễn Đăng Thục được mời dạy môn Triết học Đông phương.
Năm 1954, giáo sư di cư vào nam tiếp tục  công việc biên khảo và dạy triết học và làm khoa trưởng trường Đại Học Văn khoa Sàgòn trong khoảng  1961-1964. Trong thời gian này, giáo sư  được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Huế, đại học Sư Phạm.
Sau khi Viện Đại Học Vạn Hạnh phát triển, giáo sư làm khoa trưởng phân khoa Văn Học tại đây cho đến 1975.
Sau 1975, giáo sư ẩn cư. Giáo sư thường nói rằng thuở thiếu thời giáo sư đã quen biết Trường Chinh, Lê Đức Thọ nhưng bọn họ lưu manh, xảo quyệt lắm. Giáo sư cho rằng Hồ Chí Minh sai lầm vì đã đi sai tinh thần tam giáo đồng nguyên, bỏ sót yếu tố Ấn Độ .
Giáo sư đã biên khảo nhiều công trình như:
Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ, Hà Nội 1950.
Lịch sử Triết Học Đông Phương ,5 tập, Khai Trí,Saigon  1956-1960.
Tư tưởng Việt Nam ,2 tập,Saigon,1967-1969.
Thiền học Việt Nam, Saigon,1967.
Thiền Học Trần Thái Tông, Saigon 1971

Các sinh viên cũ của giáo sư vẫn đến thăm giáo sư tại tư gia số 9/7 đường Nguyễn Thị Huỳnh, Phú nhuận.
Chúng tôi đã tổ chức mừng thọ giáo sư năm giáo sư 88 tuổi, và thượng thọ 90 tuổi.
Chúng tôi đã có những câu đối mừng thọ :
Trọng Ni tam thiên dư đệ tử,hoa khai mãn địa,
        Lão tử nhất bách ngoại xuân hoa,hạc lệ trung  thiên.
( Giáo sư giống như Khổng tử có hơn ba ngàn đệ tử ở khắp nơi như hoa nở trên đất.
Giáo sư cũng giống như Lão tử thọ gần trăm tuổi như chim hạc đẹp đẽ giữa trời.)        
Nghiên cứu mấy thập niên , hai ba chục công trình phong phú,
        Đào tạo bao thế hệ,  ba, bốn  lần khoa trưởng vẻ vang.
Nghe tin giáo sư mất, các cựu sinh viên cũ của giáo sư ở Mỹ đã tổ chức truy điệu ngày 12-6. Ở Canada, lễ truy điệu được tổ chức ngày 26-6-1999 tại Tổ đình Từ Quang, Montreal, Quebec.
    Giáo sư được sinh viên và đồng bào kính trọng vì giáo sư đã tận tụy với nền giáo dục, nhất là có công lớn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa, tư tưởng Đông phương nói chung và Việt Nam nói riêng.
                                                                                                   

Gia Hội