Sontrung’s Weblog

Lời Hiệu Triệu Tháng Bảy 3, 2008

CHUNG MỘT LỜI NGUYỀN

Ngô Minh Hằng

Hỡi ơi, cửa Ải Nam Quan
Những dòng quốc sử còn loang máu hồng
Tiễn Cha, nước mắt từng dòng
Cha nhìn con cũng cảm lòng phân ly
Dạy rằng: Con hãy về đi
Lau dòng nước mắt nữ nhi thường tình!
Hãy đem chữ Hiếu làm Kinh
Thù nhà, nợ nước phân minh báo đền
Ích chi mà khóc, mà phiền
Lệ kia có rửa hận riêng được nào !
Nghe lời Cha dạy thấp cao
Ải Nam Quan đứng nghẹn ngào nhìn theo!
Tiếng Cha hoà tiếng thác reo
Bóng cha cùng với bóng chiều mờ tan!
Lau khô huyết lệ đôi hàng
Tay nâng kiếm báu, lòng mang lời thề
Mười năm dưới bóng trăng khuya
Bình Ngô mở nẻo đường về Đông Quan
Xưa, dòng sử Việt vẻ vang
Nay dòng sử Việt sao mang hận sầu ?
Ải Nam Quan hỡi, còn đâu !
Kìa ai cắt đất dâng Tàu? Quyền chi ???
Chính quyền phục vụ dân thì
Yêu dân, làm việc chỉ vì dân thôi
Chứ đâu cắt đất dâng người
Để toàn dân phải thiệt thòi, đớn đau ?!
Trưng Vương, Nguyễn Trãi nay đâu ?
Thù nhà, nợ nước xin mau báo đền!
Tuốt gươm, chung một lời nguyền
Buôn dân, bán nước, bạo quyền, đập tan!!!
Ngô Minh Hằng

KHI NƯỚC MẮT ĐÃ
KHÔNG TRÒN Ý NGHĨA
(Xin thân ái gởi đến Đồng Bào quốc nội và quốc ngoại với tất cả niềm đau và hy vọng)
Ôi, nước mắt đã không tròn ý nghĩa
Đồng bào ơi, ta nhất loạt vùng lên!
Giang sơn này do xương máu tổ tiên
Đã bồi đắp cho xanh từng tấc đất
Bởi quê hương là tình yêu lớn nhất
Là gia tài, là máu thịt, là nôi
Chốn chôn nhau, cắt rốn tự bao đời
Là chiếc tổ, tình thương, là tất cả !!!
Nhưng hôm nay, than ôi, đau đớn qúa
Ai? Nam Quan, bạo chúa cắt dâng người !
Hỡi Nam Quan! kìa quốc sử còn tươi
Từng giọt lệ của anh hùng Nguyễn Trãi !

Máu lại chảy, Trời ơi, vùng quan ải
Núi sông ta thêm nữa, lưỡi dao hờn
Dưới bạo quyền, dân, nước cứ từng cơn
Đau như xé những cơ tim, mạch máu !
Đâu bất khuất, đâu chí hùng nung nấu ?
Đâu tự hào, danh dự ? Hỡi thanh niên !!!
Có thể nào ta cúi mặt lặng yên
Trước nỗi nhục mà lòng không phẫn uất ???
Có thể nào ta cúi đầu chấp nhận
Mà lương tâm không hổ thẹn, đau buồn ?
Có bao giờ ta thấy tội to hơn
Trước lịch sử vì thờ ơ trách nhiệm ?
Hỡi những anh hùng dưới trăng mài kiếm
Hỡi những lòng tha thiết với tình quê
Xin tuốt gươm thiêng, chung một lời thề:
Phải trị tội phường buôn dân, bán nước
Phải nối chí hào hùng muôn thuở trước
Đòi Nam Quan, ải cũ, trả về ta!
Đứng lên nào, chính nghĩa phải thăng hoa
Vì Tổ Quốc, vì tương lai nòi giống !
Không thể nữa, ngồi nhìn và than khóc
Hãy đứng lên hành động, hỡi muôn người !!!
Đến nước này ta phải thế mà thôi
Khi nước mắt đã không tròn ý nghĩa!
Hỡi Quốc Toản, hỡi Trưng Vương, Nguyễn Huệ
Hỡi toàn dân, cứu quốc, đứng lên nào !
Đất nước này phải hết bóng cờ sao
Thì đất nước mới thanh bình hạnh phúc!
Còn cờ đỏ là dân còn hoả ngục!

Ngô Minh Hằng

KHI TỔ QUỐC ĐÃ VANG LỜI HIỆU TRIỆU

(Thân mến gởi Đồng Bào mọi giới, mọi lứa tuổi, quốc nội và quốc ngoại)

Không thể được. Không điếu văn, vĩnh biệt !
Ải thiêng kia, đất cũ phải về ta
Núi sông này là xương máu Ông Cha
Thì con cháu sao buông lời vĩnh biệt ???
Mau, xin gióng những hồi chuông khẩn thiết
Để muôn người, bao thế hệ vùng lên
Giang sơn ta, niềm kiêu hãnh Rồng Tiên
Không cho phép bạo quyền chia cắt thế
Nào, ta hãy lấy khăn lau mắt lệ
Như ngày xưa Nguyễn Trãi một lần lau
Để dựng cho đời cơ nghiệp nghìn sau
Như Nguyễn Huệ, Trưng Vương, như Ngũ Lão
Chỉ sông biếc mà thề lời Hưng Đạo
Gọi trăng vàng mài kiếm báu Đặng Dung
Việt Nam ơi, đâu hiển hách anh hùng ?
Xin hãy đáp tiếng hờn sông núi gọi !
Nhục bán nước đã sóng gầm bão nổi
Trong chí hùng, máu thắm, trái tim son
Đừng ngôì yên, vuốt mặt, nuốt căm hờn
Hỡi toàn quốc, đã đến giờ hành động !!!
Dừng thụ động, đợi chờ và than khóc
Sử Lạc Hồng cần lắm những Kinh Kha
Sát vai nhau mà giữ nước non nhà
Như một thuở những Vua Hùng dựng nước!
Ta đoàn kết là ta làm phải được
Nếu chưa xong, con cháu tiếp theo đời
Hỡi Nam Quan, máu thịt của ta ơi !
Ta không thể nhìn bạo quyền bán nước !
Đừng vì bởi an thân mà khiếp nhược
Còn bạo quyền, tổ quốc mãi còn đau
Ta phải làm gì cho những đời sau
Cho ta nữa ? để giống nòi rạng rỡ ?
Đã khóc tiếng đầu đời là đã nợ
Nợ non sông, tổ quốc, nợ gia đình
Ta phải làm gì cho đươc chết vinh
Hơn sống nhục, sống một đời hèn yếu !
Khi tổ quốc đã vang lời hiệu triệu
Khi hồn thiêng sông núi đã cần ta
Đứng lên nào. Vì nước, hãy xông pha
Dẫu lấy máu rửa hờn cho nhục nước !

Ngô Minh Hằng

XIN HÃY DỰ PHẦN

(Kính gởi toàn dân Việt Nam, các giới, trong và ngoài nước)

Sử vàng còn đó một Huyền Trân
Ô, Rí, hai châu, gái ho. Trần
Dâng hiến ý đời cho nghĩa cả
Cho nhà cho nước, chẳng cho thân
Và gương liệt nữ đất Mê Linh
Trước nỗi chung, riêng , trước bất bình
Tuốt kiếm, má hồng xây nghiệp đế
Quân Tàu khiếp sợ phải lui binh
Đọc trang sử cũ bốn ngàn năm
Dâu biển dù cho mấy cát lầm
Nhưng nhục tủi nào hơn nỗi nhục
Dâng người xương máu của Cha, Ông ?
Dâng người tài sản của dân ta
Mảnh đất quê hương: của mọi nhà !
Ai tước quyền dân rồi phản bội ?
Buôn dân bán nước lẽ nào tha ?
Trước hờn quốc nhục chớ ngồi yên
Yêu nước, ai người? Haỹ đứng lên!
Đây, lúc đem lòng ra cứu nước
Để cùng đòi lại núi sông thiêng !
Để mà góp sức cứu non sông
Cứu chính đời ta, cứu giống giòng
Tổ quốc đủ rồi cơn nhật thực
Dân lành thừa qúa kiếp long đong !
Bốn ngàn xưa đó giống nòi ta
Nhi nữ mài gươm rửa hận nhà
Chẳng lẽ văn minh nay bốn cõi
Anh hùng vắng vẻ bóng Kinh Kha !?
Việt Nam, mọi giới, hỡi TOÀN DÂN!
Hỡi những LƯƠNG TÂM. Hãy dự phần!
Hận nước đã cao bằng núi Thái
Lẽ nào cúi mặt để an thân ???

Ngô Minh Hằng

 

THE GLASS OF WATER IS NOT EVEN HALF FULL Tháng Bảy 3, 2008

THE GLASS OF WATER IS NOT EVEN HALF FULL

Tran Binh Nam

Summary: I went back to visit Vietnam for the second time in March and April 2001. I was not as excited as the first time two years ago. That time I had not seen the country for 22 years. The moment the immigration officer stamped his approval on my visa after a lengthy examination and questions I was amazed as if I were traveling to the moon. This time the exit process was much simpler. The young officer asked me how long I planned to stay in Vietnam. I said 5 weeks. He quickly looked over my application for entry, put his stamp on it and let me go. I stayed two days in Saigon with one of my nephew then I went to Nha Trang to see my brother and friends. Hanoi was my next stop where I visited Ha Long Bay, Cat Ba Island, the pass of Chi Lang and Nam Quan border post. My intention of visiting Dien Bien Phu did not materialize due to lack of time. From Hanoi you may go to Dien Bien Phu by land or by air. Either way will take you four days, two for going to and from, two for visiting the battlefield. I flew to Hue to visit my sister, the tombs of my parents and other friends, mostly my classmates of high school years. I went back to Nha Trang for three weeks to enjoy the beach with Luu and his wife Dieu Trang flying up from Saigon. Dieu Trang was the principal of Nha Trang high school for girls from 1973 to 1975. Her students and teachers hosted her with a heavy schedule that also involved Luu and myself. Time went by quickly. By early April I flew to Saigon to catch the flight back to the United States. I did not mention earlier that my son Cuong along with Phuong Tam and Paul (the eldest daughter and her husband) accompanied me to Vietnam too. All of them went back to the United States some days before me. Here are some notes on my trip.
OLD FRIEND NGUYEN XUAN THAM
Prior to my departure, one of my friends, Quynh Tieu, e-mailed me a note with the address of Nguyen Xuan Tham in Hanoi and asked me if I could manage to see him. Nguyen Xuan Tham was our high school classmate in Hue. In 1954, while in 11th grade, he joined the revolutionary movement against France for independence. He went to North Vietnam as the Geneva Accords dividing Vietnam in two parts went into effect. I wrote a short letter to Tham asking him to write or call me at my brothers address in Nha Trang.
As soon as I arrived to Hanoi, Tham called me. As his home on Ba Trieu Street was not far from Phu Gia hotel where I stayed, ten minutes later we were in each others arms in Phu Gia Hotel lobby. Forty-seven years! The last time we saw each other we were in our twenties, now we were two rather old men. Tham looked darkened and much older than I had imagined.
Tham told me what he did from the time he set foot in the North They settled in Thanh Hoa, one hundred kilometers or so south of Hanoi for the first leg of their journey. They worked for a living while attending school. Tham gathered firewood in the forest nearby, others moonlight as farmers, carpenters … After high school graduation he was sent to the Soviet Union for advanced study. He got an Associate PhD. Coming back to Vietnam he taught and wrote short stories. After 1975 he was rewarded with a post of advisor to Angola. Back again to Vietnam he taught at Hanoi polytechnic university as associate professor. He said he retired just a month ago. Unfortunately, a medical check up discovered he had upper jaw cancer. Surgery to remove the cancerous tissues was scheduled at the end of March. Tham recounted his life and his present battle against cancer with a monotonous voice as if nothing were important anymore in this earthly life. Nevertheless, he raised his voice from time to time as if he was optimistic with the current conditions, a necessary expression for people living a long time under a dictatorial regime when talking to friends. I inquired about the preparation for surgery and medication needed. He said his status permitted him to be admitted free to hospital and no charges for surgery. Doctors told him he needs better medicattion – which his status does not allow – for rapid recovery if ever the surgery proved successful. I asked how much money would be needed for good medication and where to buy it. He said good medication is available in Hanoi and the cost is around ten million dong. I estimated it to about 700 US dollars. Tham handed me a censured manuscript of his poems ready to go to print office and said his savings for the printing will be used for medication. Tham said: For now, just forget the poems. I want to save my life first and added: I went a long way to urge the surgeon who was about to operate on my cancer to save my life. I want to live a little longer to write. I have a lot of things to write. I asked Tham why in the world he had to solicit the doctors favor. All doctors are supposed to save lives of patients. Tham said he does not know how the elite members in the Politburo and the Central Committee of the Vietnamese Communist Party were treated, but as far as he knows people must pay handsome money to hospital staff if they want to be taken care of properly. If you do not have money what else you can do except to ask for favor. He concluded: Fortunately I still have some position in society. I hope my solicitation will not fall on deaf ears.
Two days prior to his admission to hospital I went out to lunch with Tham. He chose a seafood restaurant on the bank of Lake Ho Tay. From his house on Ba Trieu Street the taxicab drove us along the dyke of Hong Ha River. The dyke was such a large concrete highway that, without the exits to the bank of Hong Ha we would have a hard time knowing we were on a dyke. Until ten years ago the dyke – built for centuries – was still made of earth. Recently people in power in Hanoi had built their own houses on the base of the dyke. Hanoi residents reacted angrily to the controversial constructions, fearing that the weakened dyke would be unable to prevent Hong Ha River from flooding the city during the rainy season. The least influential persons houses were demolished; and a project to rebuild the dyke in concrete was in the makings. It was good for the population of Hanoi and it was a relief for people having houses built on the dyke.
We passed Thanh Nien Avenue (Youth Avenue), a large asphalted street made of stone wandering between Lake Ho Tay and Lake Truc Bach, a smaller lake on the right side. Tham told me: I had sweated profusely on this street. It was the romantic Co Ngu Alley for Hanoi poets before the revolutionaries took over Hanoi after the Geneva Accords. It has been rebuilt with stone and mostly by human muscles of youth coming from all parts of the North and youth from the South regrouping to the North, like me. Uncle Ho then named it Thanh Nien Avenue. I still smell the ripe pink-pulpet guavas growing plentifully along Co Ngu. They had to be cut down for the enlarged street. We ate them as much as we could; the rest was thrown away with regret.
Beyond the Tran Quoc Temple we saw the five-star Thang Loi Hotel before going over to the north side of Ho Tay to proceed to Phu Tay Ho, a small temple at the end of a split of narrow land originating from the north bank jutting out to the center of Ho Tay. A small street bordered in both sides by numerous seafood restaurants led to Phu Tay Ho. On the north bank of Tay Ho were many imposing red- roofed houses. Rumors had gone that, years ago the powerful members of the Communist Party appropriate the best parts of the north bank to build their retired mansions. I asked the taxi driver, amused: Whom those gorgeous houses belong to? Hesitatingly the driver said: The people! (of dan) Tham added: Of dan gian, you know! (dan gian taken together means the people, but taken as two separate words, it means bad people)
On the way back Tham asked the taxi driver to go by Lenin Park. In the middle of the Park a statue of Lenin made of stone stood tall against the cloudy sky, with a wall of trees as background. Tham murmured to my ears: This probably is his last statue in the world. To be different from all other countries, that is Vietnams trademark. I nodded approvingly. The taxi driver kept his silence. After the failed coup against Mikhail Gorbachev in 1991, Gorbachev dissolved the Soviet Unions Communist Party. People in Moscow took to the streets and pulled down the Lenin statue in Red Square. People in other Eastern countries did not wait long to follow suit. Passing Lenin statue, Tham asked me to stop in front of the hospital where he will soon be operated for cancer, located across the street from Hanoi Towers, formerly Hoa Lo, or Hanois Hilton as named by American POWs. Hoa Lo was the famous prison where the French colonial Administration jailed the revolutionaries and later on served as jail to keep the American flyers, among them the famous POW turned politician John McCain. The designer of Hanoi Towers saved a portion of Hoa Lo that included a tower for armed guards and some red-roofed cells. As official explanation goes, it helps to remember the atrocities of the imperialists. I asked Tham as to why he needed to stop by at the hospital. He said he had to get in, don his patients blouse and claim his reserved bed. Otherwise, he could lose his bed to other patients. I was surprised at the way the hospitals in Hanoi were managed.
We hugged each other. Tham stepped out of the taxi. I watched him walking through the hospital entrance with confused feelings. The next day I flew to Hue.
NAM QUAN PASS
Had Phuong Tam and Paul not have problems with air travel to China, I would not have been visiting Nam Quan Pass. Due to a minor booking problem, they were not listed on the scheduled flight to Con Minh from Hanoi; they decided to enter China by land through Nam Quan Pass. Cuong and I accompanied them for the trip to the northern border. Nam Quan pass was called Friendship Gate to emphasize the friendship between the two countries. Friendship did not mean the two countries have not been fighting each other bloodily down the road of Vietnams long history. The most recent war occurred twenty-two years ago. In 1979, a hundred thousand Chinese troops invaded Vietnam, destroying the city of Lang Son and Dong Dang, a smaller town further north. Chinese troops thrust their way deep into Bac Giang, and stopped right before the gate of Hanoi. Later western intelligence disclosed that China was afraid of Soviet attacks on its atomic facilities.
The portion of National Route No. 1 connecting Hanoi to Lang Son is about 150 kilometers long. The two-way enlarged route is well repaved with asphalt, bordered by lanes for motorcycles, bicycles and pedestrians. It was safe to drive at 80 kilometers per hours on the flat portion from Hanoi to Bac Giang before entering Lang Son. From Lang Son the route wandered through a mountainous area marked here and there by high stoned hills. If the scenery were filled by water you might think you have another Ha Long Bay on land. The narrow pass of Chi Lang was paved with cement on both sides. Scripts depicting the heroic ambush by king Le Loi six centuries ago annihilating the invading Chinese troops led by the famous Chinese general Lieu Thang could be seen. A chilling feeling went down my spinal cord as I imagined thousands of Vietnamese soldiers charging the Chinese invaders. The death of Lieu Thang marked the continuation of Vietnam as a sovereign nation.
Here is Lang Son, the largest northernmost city! Lang Son has seen the French colonial troops mauled by general Giap in their withdrawal in 1950. In 1979 Chinese troops leveled Lang Son to the ground as an act of revenging Vietnam for the overthrow of Chinese allied Pol Pot regime months earlier. Lang Son and Dong Dang have been partly rebuilt. The sign of reconstruction can be seen everywhere. It was hot, dusty and humid in this region in April. Folklore says Dong Dang has the market of Ky Lua. But Ky Lua was not in Dong Dang. It was right in the center of Lang Son. Why? Everyone was too busy finding an answer if there ever is one. Commerce activities along the border are the foremost occupation of Lang Son inhabitants. We left Lang Son going north. The milestones marked: Dong Dang 8 kilometers; Nam Quan Pass 11 kilometers. A large custom facility between Dong Dang and Lang Son controlled the flow of goods imported to Vietnam. Hundreds of trucks full of merchandises parked on the right side of Route Number One waiting to be checked by Vietnamese custom officials. Out of the pavements along the trucks the gathering made makeshift market. The row of trucks looked like a convoy bringing troops to the war front. In fact this was a war, an economic war. The amount of merchandises officially passing through Nam Quan Pass and other hundreds of tons of goods passing through other points along the northern border evading tax constituted a big economic battle for Vietnam.
After Dong Dang I could not wait to see the Nam Quan Pass. A picture of the Pass similar to the majestic gates of Thuong Tu or Dong Ba in the capital city of Hue I saw in a geography book sixty years ago still haunted me. At the border however, I did not see the Pass. Instead I saw a gate like the one of a paid parking lot with some policemen standing guard. I came to the custom facility, a large building, and as Paul and Phuong Tam were doing their paperwork I asked a custom officer: How can I see Nam Quan Pass? He said, gesturing toward the gate Twenty meters beyond that gate is the end of Vietnam territory. You cannot see the Pass from here. It is inside China. I was not satisfied with the answer, but I did not inquire further. Two years ago Vietnam signed a land border agreement with China. The contents of the Agreement were not disclosed. Rumors from dissident groups inside the country circulated around the world that the Vietnam Communist Party has ceded the high points near the border to China under the pretext of common security. Recently at the general convention of the VNCP in April 2001 Nong Duc Manh replaced Le Kha Phieu, until then the VNCP boss. The conventionists accused Le Kha Phieu of four counts, one of them was ceding too much to China in the Agreement. Nobody knows the truth, probably not until the Agreement would be disclosed by Nong Duc Manh. It is interesting to mention here the words of professor Nguyen Xuan Tham. Vietnam is quite a peculiar country in the world community; the people are deprived of the right to know the contents of an international agreement affecting the security of their country.
UNIFIED TRAIN S7
On March 27, Cuong and I took the express train S7 from Hue to go to Nha Trang. All express trains originating from Hanoi to Saigon and back were named Unified Trains. There were two kinds of Unified Trains, high-speed and ultra-high speed. S7 was of high-speed kind, stopping at almost all main stations. From Hue to Nha Trang S7 stopped at Lang Co, Da Nang, Tam Quan, Dieu Tri, Qui Nhon, Tuy Hoa, Nha Trang. The ultra-high speed trains stop only at the larger cities.
I missed the ultra- high speed train that morning because of the working of the black market with which I was not familiar. The ticket clerk lied to me that the ultra- high speed train I wanted to book would not stop at Nha Trang, so I took the high-speed train. Aboard the train I learned that all Unified Trains regardless of speed would stop at Nha Trang. But it was too late.
The compartment has two rows of beds; each row has three beds, one on top of others leaving enough space in between for you to lie down for a nap. Cuong and I had reserved two beds at the bottom. In the compartment I found three passengers. On the left, Ms. Lan, 45, professor of the school of pedagogy of Kontum, taking the top bed, Ms. Van 37, a military journalist taking the middle. On the right, Mr. Vinh, a police officer in his thirties, taking the middle bed. The top right was for Mrs. Hong, in her fifties, a passenger boarding the train at Hue. She complained as she climbed to her bed: I cannot take it anymore. You need to go in a hurry and you have to bribe somebody 50 thousand dong to get this damned bed! As soon as the train left the station she was snoring deep in her sleep. Ms. Lan, Van and Vinh engaged in small talk while Cuong went out of the compartment to watch the scenery. I chose to rest in my own bed.
Away from Phu Bai, S7 sneaked its way smoothly southward under a clear sky covered with cumulus. On the right a range of blue mountains appeared far away, and on the left green rice fields stretching toward the sea. A peaceful atmosphere reigned, except the voices of Ms. Lan, Ms. Van and Mr. Vinh. They conversed about their daily work. Ms. Lan, a good looking woman, was returning to Kontum after finishing an advanced course in pedagogy in Hanoi. She will disembark at Dieu Tri and catch an express bus to go to Kontum before dark. She was the sole daughter of an underground district party chief during the war against French domination. After the war (with French), then one-year old, she went to the north with her parents. She spoke with a Hanoi accent mixing with Binh Dinhs and she did not hide her compassion toward the south where she was born. Ms. Van of Hanoi was sent to NhaTrang to be part of a team of teachers for a short military reporters training session. She was a bit chunky, with fair complexion, easy going and spoke with pure Hanoi accent. She said the liberation of the South in 1975 did not have any significant imprint on her. She was only 10 years old at the time. She was satisfied with her present job as an expert in military reporting. Vinh, the police officer did not reveal much about himself, talking just enough to maintain the conversation with Ms. Lan and Ms. Van while sipping a can of beer. He offered beer to Ms Van. Ms. Van refused the offer saying she was not in good shape.
The train moved quietly, lightly oscillating, marking regular and distinct sounds when the wheels met the small space between the railways. Stretching on my bed I could not sleep nevertheless, listening to the conversation. They talked openly, but I thought they might not express their feelings if they had bitterness in their minds. The train stopped at Lang Co, adding one more locomotive to mount the Hai Van Pass. It was raining lightly. Some little girls covered with makeshift raincoats were selling boiled sweet potatoes, maniocs, and spring roll wrappers, cut sugar canes in small nylon packages. You may buy dried squids and beer from them. Handicapped people on crutches were approaching the train windows to ask for money from the travelers. Mrs. Hong was awakened by the noise. She climbed down from her bed, buying a package of sugar canes and a can of coca-cola. She gave money handsomely to the handicapped people, then sat down on the edge of my bed sipping her refreshment, not talking to anyone.
A middle- aged traveler walked by. Ms. Lan greeted him and introduced him as professor Man, her former teacher at the University of Hue. Ms. Lan talked about professor Man as a kind teacher toward the students. At a postgraduate course he gave good grades to all students regardless of the qualities of their work. Asked why he did so, he said amusingly Higher education should have high grades. Mrs. Hong reacted: Your story gave me a chill along my spinal cord. Education is the most important thing for a nation and should not be treated lightly. Bad teachers produce unqualified graduates. Your teacher Man may have a good heart but what he does has long lasting consequences for the countrys future. How this country could be raised to international level of intellect and technology? Cuong kept his silence. I expected reaction from Ms. Lan, and if not, from Ms. Van or Mr. Vinh. Nothing happened. Ms. Lan turned his back a little away from Mrs. Hong as if she did not want to argue with her. Vinh finished his beer and offered one to Ms. Van again, looking pensively through the windows.
Cuong engaged a conversation with Mrs. Hong to break the silence. Mrs. Hong opened her heart to Cuong: I am a merchant of convenience. In that memorable year of 1975 I already had six children. Unfortunately my husband made me pregnant before he was sent to the re-education camp. In 1976 I gave birth to my seventh child. Neighbors were much concerned about my familys survival. I struggled to survive anyway. Trains and railways were where I lived. I bought merchandises from one city and sold them in another city. My children stayed with my sister under the care of the eldest child, a 10-year-old girl. Lowering her voice Mrs. Hong said just for Cuong to hear: Life was hell. I married just a year short of graduation from the University of Hue. I had no experience in earning a living. Anyway I survived years of hardship in the face of a policy against all aspects of commerce by the new government. One of my sons left home, slipped out of the country with friends, and is now settled in Seattle. Others have grown up, married and settled. I only regret that they could not attend schools, as they should. Lack of money is one thing, to be on the wrong side of the war was another reason. Mrs. Hong said she is doing wholesale commerce now. Merchandises are packed and charged on the train. People at destination pick them up. I am there to receive the money. Her husband was released after 12 years of re-education and was eligible for Human Operation (HO) program. Unfortunately he died prior to being interviewed by US officials. The whole family was stuck.
The trio Lan, Van and Vinh appeared to pay no attention to Mrs. Hongs story. They continued their conversation with lower voice. Ms. Van told them she once went to DaNang by train and arrived at night. She saw the porters sleeping in the station courtyard. She thought it was so simple to sleep at night right where they work in the daytime. Mrs. Hong intervened provokingly: Really it was simple, but also it was so miserable. A country is like a family. If the father does not fulfill his responsibility misery falls on his children. People are still so poor and a large portion homeless after so many years of peace! Who is responsible? Ms. Van retorted mildly: But the leaders need time, dont they? Ms. Hong commented: Of course everyone needs time to learn. But education is the prerequisites of learning. A doctor may become a good farmer after 6 months of training, but a farmer may not become a doctor regardless how long he learns. The compartment fell silent. Only the wind due to the motion of the train and the regular noise of the iron wheels on the railways could be heard. Ms. Lan apparently irritated, turned her back further toward Mrs. Hong, and closed her eyes as if she were sleeping. The police officer took out a pamphlet trying to read. Ms. Van kept silent, looking outside. Cuong engaged in small talk with Ms. Van. She was about Cuongs age. She asked him about life in the United States and expressed her wish to have an opportunity to visit that country to refresh her thought. They traded e-mail addresses.
The police officer got off at Tam Ky. Ms. Lan prepared herself for next stop at Dieu Tri. She said to Cuong: It would be a favor if you help me move two luggages out of the station gate at Dieu Tri. I still have another two heavy bags. Professor Man promised to help me out, but I dont like to bother my former teacher. Mrs. Hong told to Ms. Lan, You should not ask the young man for help. The train stops only for a few minutes at Dieu Tri. He may miss his train. Just spend some thousand dong and a paid helper will help you out. Dont be so stingy. The possibility of Cuong missing the train scared me. I went over the next compartment and let professor Man know that Ms. Lan needed his help. Professor Man came over and heaved Ms. Lans two heavy luggages out of the compartment. Lan followed him with her own bags on both hands. I said goodbye to Ms. Lan, wishing her a safe trip back home. I murmured to professor Man: Teaching pretty students was indeed agreeable and at the same time bothersome, wasnt it? At Dieu Tri two female students came on to fill the compartments vacancy. Mrs. Hong, up again to her bed, and in a few minutes one may hear her snore pleasantly. I took a short nap before the train pulled in to Nha Trang station. It was exactly midnight March 27. The train was one hour late.
TRINH CONG SON ENDS HIS EARTHLY JOURNEY
Here I am in Nha Trang. Today is April 1. Frenchmen call it Poisson dAvril, the Americans label it April Fools, and Vietnamese imitating the Frenchs call it Ca Thang Tu. On April Fools you may disseminate any kind of false news you like. If someone believes them it is his or her problem. Some small things happened to me on that day that were real, not fools. My old friend Chuan, 78, took a 10-kilometer trip with his bicycle to come to Nha Trang at 6:AM to enjoy the beach with me. Phuong Tam flew in from Hanoi, Luu and Dieu Trang from Saigon. At 6:PM Luu and Dieu Trang, Lys, Chaus, Duys, Nhu and I dined out at Bien Tien, an isolated beach that looks out to Nha Trang bay and connects with the city of Nha Trang by a newly built highway crossing the mouth of Nha Trang River through Bai Duong and Dong De.
Domestically as well as internationally there was important news. In Hanoi members of the Politburo of the VNCP engaged in a deadly struggle for the position of general secretary. In Saigon, composer Trinh Cong Son died of diabetes complications. Over the South China Sea a Chinese jet fighter hit an American intelligence plane. The jet went down. The pilot jumped out and perished. The 24-man crew of the American plane landed safely in HaiNam Island. All this news, except Trinh Cong Sons death, were cynically treated as April Fools by people on the streets of Vietnam, even though Hanois political atmosphere could compromise the stability of the country. Rumors were everywhere that at some strategic locations in Hanoi anti-aircraft batteries had been positioned. The current general secretary Le Kha Phieu who maneuvered to be reelected, was changing his whereabouts every night for fear of being removed by force. People did not care much about political tension between China and the United States either. The sole news that occupied their mind was the passing away of Trinh Cong Son.
His death hit the headline in all newspapers. The traffic on Pham Ngoc Thach street in Third District was virtually blocked. There were too many motorcycles converging on Trinh Cong Son house where his body was being prepared for burial. Young people in Saigon revered Trinh naturally as if his songs with words coming from his dreams and defying all grammatical rules permeated their souls. Nguyen Minh Triet, member of VNCP politburo, party boss of Saigon, sensitive to public feelings came to pay tribute to Trinh Cong Son. He made arrangements to be photographed white shirt, black tie, seating beside two Trinhs sisters and the photos printed in all Saigon newspapers. Even well known retired officials like Nguyen Van Linh and Vo Van Kiet had condolence gifts sent, just to show that they are keeping pace with the people or at least with Nguyen Minh Triet, the man in power. People on the streets dissected every word of Khanh Lys condolence on Trinhs death. In 1995 in a hand written note Trinh Cong Son wrote of Khanh Ly, A friend of destiny, loving each other forever. She said to a BBC program in Vietnamese: Two years ago I met with him. I had the premonition that it was the last. In fact, Mr. Trinh Cong Son does not belong to anyone. He belongs to the people. His choice to stay with the fatherland and die there was the right choice because he loves the country and the Vietnamese people intensely. I owe him a name and, more importantly, the best way to live meaningfully. I have lived for forty years with his name attached to mine and with what he told me. He taught me to live with a good heart to all. Mr. Trinh Cong Son has been half of my life. Khanh Ly comments on Trinh Cong Son upon his death was burning with sentiment, but the third person she used to refer to Trinh Cong Son sounds so cool. Why does she need a decent interval between her and Mr. Trinh?
Most Vietnamese in their 60s have reservations with Trinh Cong Son political tendency. They blame him of having compromised the South Vietnamese peoples efforts in the war for freedom by composing the anti-war songs and for having drunk most of the time. A very small portion shares his feelings toward the war, according to which it is a war between two ideologies where the Vietnamese people happened to be caught in the crossfire. His drunkenness helped him extract the magic words and to compose songs that go straight to the heart of common people. The relationship between Trinh Cong Son and the VNCP was a struggle to preserve the dignity of an artist. What would be the thing the new government would like most, if not for Trinh Cong Son to compose a song hailing uncle Ho or the VNCP? Trinh Cong Son did not give birth to such a song, and he was kicked down to an empty position in Hue. They let him travel to Europe hoping he would not return and be rid of him for good. He came back every single time. He won in the process the psychological war with the communists and captured the heart of the people. The Vietnamese government could not turn its back on Trinh Cong Son. By paying tribute to Trinh they want to reclaim him as one of theirs. In fact Trinh Cong Son does not belong to anyone.
VIETNAMESE LANGUAGE AND THE EXISTENCE OF THE NATION
The policy of the communist government is to use Vietnamese language as much as possible. During the war and after taking over the South they pushed this policy to the extreme. Maternity ward became xuong de, students of different sex became hoc tro trai, hoc tro gai, restroom became nha ia … Those ridiculous vocabularies disappeared with time as nobody used them. Then a reverse phenomenon came into being. A lot of common Vietnamese words were replaced by words with Chinese origin. Dan bai (lesson plan) was called giao an, khoi cong (start a project) is replaced by thi cong… There were no rules to be adhered to.
The policy (or no policy) of the National Tourist Office (NTO) was another thing. Hanoi and Hue are the most attracting places to foreign tourists, especially Hue. The Old Imperial City of Hue and its royal tombs have been recognized as world heritage by UNESCO a decade ago. Tu Ducs tomb known as Khiem Lang by the royal family – was the most beautiful. It was built on the evergreen hill of Van Nien on the right bank of Huong Giang River. From afar it looked like a colorful curtain covering the pined hill.
Visiting Khiem Lang this time, my childhood playground, I had mixed feelings. Beyond the main entrance a paved lane bordering by white frangipanes covered with yellow flowers leading to the center of Khiem Lang. On the right was a lake for lotus, king Tu Ducs fishing pond, and on the left perched on top of numerous steps was the tomb of the King. Stepping to the top I found myself with a young Canadian tourist in his thirties, before a stele made of marble engraved with Chinese characters. I have seen this stele hundreds of time. I could not read them but I never cared. The tourist asked me after making sure that I was a Vietnamese: Are there two ways to write Vietnamese? Realizing that I did not understand his question, he explained, pointing his finger to the marble stele. I know that you write your language using a,b, c like us. So those characters would be another way to write Vietnamese? I said: No, we have only one way to write our language. Those characters are Chinese. He questioned me with curiosity: So why in the world there were no translation into Vietnamese for Vietnamese and English for foreign tourists? I had no answer. I could not say the NTO was busy with other things; or the NTO did not pay attention, or any other reason.
The inquiry of the Canadian tourist made me think back to other marble or stone steles, the wood panels with characters in yellow ink written on red background at Khong Tu Temple, Tay Ho Temple, Quan Thanh, Tran Quoc in Hanoi, and others at the royal palace in Hue. Standing before them was like facing a dense forest; you dont understand even one word. Suddenly I had the burning desire to understand them if ever they were translated into Vietnamese. I would know my countrys heritage better than what I had learned from the history lessons at high school, and probably I would feel more attached to the country. I asked myself why the leaders of the successive regimes in Vietnam, from Bao Dai back to the 50s, through presidents Ngo Dinh Diem and Nguyen Van Thieu, and the communists with more than 26 years of peace did not pay attention to such an evidence. I questioned myself why such a trivial question did not come up to me sooner, until a foreign tourist threw it to my face? Probably the Confucius teachings had permeated too deeply our mind making us blind to the first necessities required to make a nation a sovereign one. We are lacking in self-esteem and a self-culture as well. I suddenly realized one of the reasons why this S-shaped Vietnam favored by nature, inhabited by such a hard-working people, still remains a backward country at the dawn of the 21st century.
THE LEGEND OF CU CHI
On April 10, Dieu Trang, Luu, two of my nieces and I went to visit Cu Chis underground tunnels. District Cu Chi in the province of Binh Duong is located about 30 kilometers northeast of Saigon. The story went that in the flat part of Cu Chi covered with shrubs there was a network of underground tunnels the guerrillas used to harrass the American forces during the war. An official pamphlet described Cu Chi as an invincible fighting base. The American forces called on powerful means yet still failed to destroy the base. Cu Chi guides told visitors that during the war, guerrillas from underground tunnels often appeared right in the heart of the American base, killed Americans soldiers then disappeared again into the tunnels without leaving a trace. According to guides, the tunnels were 250 kilometers long, equipped with hospitals, surgery facilities, resting areas, conference rooms, and could handle a military unit as big as a regiment. Naturally Cu Chi became the magnet for tourism.
We arrived to Cu Chi on a hot and humid morning. The tunnels were located on the left side of the road to Binh Duong. On the right were the receiving facilities with ticket stand, film presentation room, refreshing stands and restaurants. All employees donned guerrilla outfits except the girls at the ticket stand. The scheduled film projection session had been just over when we arrived, the guides decided instead to show us the tunnels first. The portion showed did not impress us at all. Tunnels entrances and exits were 100 meters apart from one another. We were also showed the rudimentary booby traps of different designs, underground conference rooms, and rest area. A hole of 20 meters diameter and 10 meters depth covered with grass was presented as remnant of B-52 bombing. The flat jungle did not bear any proof of hundreds of holes now filled, as alleged by the guides. At another tunnel entrance a guide tried to convince a Japanese woman not to enter for fear of suffocation. The Japanese, probably a reporter eager to find the truth, insisted and entered anyway. I saw her reappear at the other end, smiling. Back to the projection room we watched a black and white film about the system of tunnels. It was another disappointment. The film was of mediocre quality, containing more wishful thinking than facts about the tunnels. I had strong feelings that Cu Chi was just another Hanois propaganda coup. Cu Chi story was at best a legend, built up with the help of anti-war American reporters. During the war, they lounged in air-conditioned coffee shops in Saigon, gathered and dispatched news aimed at justifying that Americans were on the wrong side of the war. The information related to Cu Chi such as its length of 250 kilometers, equipped with power plants, hospitals, surgery units, recreation facilities for whole battalions needs more substantiating proof. I dont see why the Americans could not destroy the complex with the firepower at its disposal. After the war was over a great number of American veterans visited the tunnels. Now most visitors were from Europe or Canada. Few Americans were to be seen. Why the American veterans did not speak out? Maybe this is a sign of self-respect. Losers wont argue with what the winners have to say. Moreover, the Americans themselves had helped create the legend.
I had a short but revealing dialogue with the guide, a young guerrilla:
- What do you know about Cu Chi during the war?
- Nothing, I was too young. But my father did fight in here.
- Probably you heard a lot about your fathers fighting activities in the tunnels?
- Not much. He is an old man now in his fifties. He is too busy with his small gasoline boat transporting people back and forth across the river nearby to earn enough money to raise my two brothers.
NOT EVEN HALF-FULL
On the way to Tan Son Nhat international airport to return to the United States I read a huge slogan written with red paint over the wall of a large building in First District: Market Economy in the Direction of Socialism to Make the Country Strong, the People Rich, the Society Civilized, and to Bring Equality to All At the end of the 1980s, the policy of doi moi allowed the retailers some extra space to breath, but people were not rich yet. People in power and a few others clever enough to exploit the system amassed large fortunes with impunity. Most, especially those living in the countryside remained desperately poor. Vietnam was not stronger. Neighbors respect diminished. China was more aggressive in her ambition on land and sea borders shared with Vietnam. There was no equality in the society because of one-party political system. And civilization? If we see civilization as color TV sets, air conditioners, gas ranges, cellular phones … Vietnam is a somewhat civilized country. But if we see civilization as a law-abiding society in which all components know their duties and the limits of their freedom, and people are helpful to one another, society in which judges are judges, teachers are teachers, workers are workers, the Vietnam as a civilized country still has a long way to go.
My thinking turned to Ho Chi Minh City where big houses looking down on beautiful boulevards all belong to the high-ranking officials in the communist party. Those people may never have known anything about Cu Chi
The Vietnam glass of water is not even half full and is gradually dwindling.

Tran Binh Nam

 

LY NƯỚC LƯNG DẦN Tháng Bảy 3, 2008

LY NƯỚC LƯNG DẦN

Trần Bình Nam

Lới nói đầu:

Về thăm quê hương lần này (tháng 3 và tháng 4 năm 2001) tôi ít xúc động hơn chuyến đi cách đây 2 năm. Lần ấy tôi được nhìn lại đất nước Việt Nam sau 22 năm xa cách, và tôi bàng hoàng lâng lâng khi người sĩ quan công an hải quan ở Tân Sơn Nhất đóng dấu vào chiếu khán cho phép tôi nhập cảnh. Lần này thủ tục nhập cảnh đơn giản hơn. Người công an hải quan trẻ tuổi chỉ hỏi tôi: Bố về bao lâu? Tôi trả lời 5 tuần. Anh công an liếc nhanh vào ngày tháng tôi ghi trên phiếu nhập cảnh, đóng dấu rồi cho tôi ra cổng. Sau 2 ngày ở lại Sài gòn với gia đình một người cháu tôi ra Nha Trang thăm ông anh ruột và bạn bè, sau đó ra Hà Nội viếng vịnh Hạ Long và đảo Cát Bà, lên Lạng Sơn thăm Chi Lăng và ải Nam Quan. Tôi định đi viếng Điện Biên Phủ nhưng thời gian không cho phép. Từ Hà nội muốn đi Điện Biên Phủ có thể dùng đường bộ qua dịch vụ du lịch, đi về hai ngày đường , ở lại hai ngày, hoặc dùng Air Việt Nam mỗi tuần có hai chuyến bay. Bay lên ở lại chờ về chuyến sau. Cách nào cũng mất ít nhất 4 ngày. Từ Hà nội tôi về Huế thăm bà chị ruột, và mộ ba mẹ. Trở lại Nha Trang mấy tuần, có vợ chồng bạn Hồng Giũ Lưu và Diệu Trang từ Sài gòn bay ra chơi và tắm biển 5 ngày. Diệu Trang nguyên Hiệu Trưởng trường Nữ Trung Học Nha Trang từ 1973 đến 1975 nên thầy cô cũ và bạn bè của bà làm Lưu và tôi cũng bận bịu lây. Những ngày mùa Xuân nóng ở Nha Trang chóng qua tôi vào Sài Gòn để chuẩn bị trở về Hoa Kỳ. Cùng đi về Việt Nam lần này với tôi có Cương, con trai, vợ chồng Phương Tâm và Paul, con gái đầu. Cả ba đều trở về Hoa kỳ trước tôi mấy ngày.

Chuyến đi của tôi được ghi lại sau đây.

BẠN CŨ NGUYỄN XUÂN THÂM

Trước khi lên đường bạn Quỳnh Tiêu ở Dallas cho tôi địa chỉ của Nguyễn Xuân Thâm ở Hà Nội và dặn: Ra Hà Nội xem có kiếm thăm hắn được không? Nguyễn Xuân Thâm học trung học với chúng tôi ở Quốc học Huế. Năm 1954 chưa xong lớp đệ nhị Thâm bỏ nhà lên chiến khu, sau đó theo đoàn người tập kết ra Bắc. Đến Sài Gòn tôi viết một thư ngắn gởi Thâm yêu cầu nếu nhận được thì viết thư cho tôi về Nha Trang. Tôi ghi điện thoại của anh tôi để Nguyễn Xuân Thâm gọi nếu cần.
Ra Hà Nội, vừa tới khách sạn tôi nhận được điện thoại của Thâm. Nhà Thâm ở đường Bà Triệu không xa khách sạn Phú Gia nơi tôi đang ở, nên 10 phút sau chúng tôi gặp nhau. Bốn mươi bảy năm! Xa nhau từ lúc trên dưới 20 tuổi bây giờ đã thành hai ông già. Nguyễn Xuân Thâm đen và già khọm đi. Thâm kể cho tôi nghe quảng đời từ lúc ra Bắc vừa học vừa làm để kiếm sống. Thời gian mới ra ở Thanh Hoá hằng ngày vào rừng lấy củi bán cho dân. Hết cấp trung học được đảng cho đi du học ở Liên bang Xô viết (bây giờ là Liên bang Nga) lấy bằng Phó Tiến Sĩ. Về nước dạy học và viết văn. Sau năm 1975 được đặc phái đi làm nhiệm vụ quốc tế tại Angola. Trở về Việt Nam dạy Đại Học Bách Khoa Hà nội với hàm Phó Giáo sư. Anh vừa nghỉ hưu được một tháng và giám định y khoa cho biết anh bị ung thư hàm trên. Các bác sĩ đã chuẩn bị mổ vào cuối tháng 3. Anh trầm trầm kể lại quá khứ phấn đấu và sự đối đầu với tử thần trong hiện tại như trong cuộc đời không có chi là quan trọng. Thỉnh thoảng anh cao giọng để bày tỏ sự phấn khởi cần thiết như thói quen của những người ở lâu năm dưới chế độ xã hội lâu ngày gặp lại bạn cũ. Tôi hỏi Thâm việc mổ ung thư, săn sóc và thuốc men được chuẩn bị thế nào. Thâm nói: Qui chế giáo sư đại học cho mình nằm bệnh viện hạng trung cấp, mổ và thuốc miễn phí. Nhưng các bác sĩ cho biết thuốc theo qui chế không được tốt lắm. Chứng ung thư của mình nếu mổ thành công cũng cần thuốc tốt mới hy vọng dứt. Tôi hỏi thuốc tốt mua ở đâu và chừng bao nhiêu mới đủ. Thâm đáp: Mua ở Hà nội và chừng mười triệu. Tôi tính nhẫm: 700 mỹ kim. Thâm đưa cho tôi xem một tập thơ đã được kiểm duyệt chờ in và nói: Mình đã để dành được mấy triệu để in tập thơ, nhưng thôi cứu mình trước đã, tiền in tạm dùng mua thuốc sau sẽ tính. Nguyễn Xuân Thâm nói tiếp: Mình nói như lạy ông bác sĩ sẽ mổ mình, xin thi ân cứu mạng. Tôi không ham sống, chỉ muốn kéo dài ngày sống để viết thôi. Tôi ham viết và có nhiều chuyện để viết. Ngạc nhiên tôi hỏi Nguyễn Xuân Thâm sao bệnh nhân phải van xin? Bác sĩ nào chẳng muốn cứu mạng bệnh nhân. Thâm nói: Trừ các ông trong Bộ chính trị và các Ủy viên trung ương đảng sao mình không biết, còn ai vào bệnh viện muốn được chữa trị tử tế đều phải chi tiền. Không có tiền thì năn nỉ. May mình còn một chút thế giá trong xã hội.
Hai ngày trước khi Thâm vào bệnh viện, tôi mời Thâm dùng cơm trưa. Thâm chọn một tiệm bán thức ăn biển bên bờ Hồ Tây. Từ đường Bà Triệu xe taxi đưa chúng tôi chạy dọc đê sông Hồng. Đê là một xa lộ kiên cố, xe cộ đông đúc. Nếu thỉnh thoảng không có những lối nhỏ chạy xuống bờ sông thì khó biết đây là một con đê. Mười năm trước đê còn bằng đất và những người có thế lực ở Hà nội đã chiếm đất xây nhà bên bờ đê. Trước sự than vãn của dân Hà Nội vì nguy cơ vỡ đê chính quyền Hà nội đã triệt hạ một vài khu nhà của những người kém thế nhất. Và rồi con đê được biến thành xa lộ kiên cố để yên lòng dân và – nhất cử lưỡng tiện – để yên lòng các chủ nhân những ngôi nhà đồ sộ ở mé đê..
Xe taxi chạy qua đường Thanh Niên, một con đường đá tráng nhựa khá rộng nằm giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Thâm nói vào tai tôi: Mình từng đổ mồ hôi ở đây. Đường này ngày trước là đường Cổ Ngư nhỏ hẹp làm đề tài cho nhiều thi nhân yêu Hà Nội. Nó biến thành đường Thanh Niên năm 1955 do bàn tay lao động của thanh thiếu niên Hà Nội và của các tỉnh miền Bắc đổ về, cùng với đoàn người trẻ từ miền Nam tập kết ra. Thâm nói tiếp: Mình nhớ khi vận chuyển đá lấp con đường nhỏ mình tiếc nhất những cây ổi hai bên đường với những chùm ổi nhỏ chín mọng thơm phức. Ăn không hết, bức bỏ không đành.
Qua khỏi chùa Trần Quốc taxi đưa chúng tôi chạy qua khách sạn Thắng Lợi vòng lên phía bắc Hồ Tây chạy ra Phủ Tây Hồ. Phủ Tây Hồ là một điện thờ nằm cuối một doi đất nhỏ chọc thẳng ra giữa Hồ Tây. Một con đường tráng nhựa nhỏ chạy dài giữa doi đất . Hai bên nhìn ra Hồ Tây bát ngát phẳng lặng là các tiệm bán đặc sản đồ biển sát cánh nhau. Phía bắc Hồ Tây nhiều biệt thự xây bằng gạch đỏ chói xúm xít quanh bờ hồ. Nhớ một thời có tin đồn các Ủy viên Trung ương đảng có thế lực chiếm những vùng đẹp nhất quanh bờ hồ xây dựng nhà riêng tôi hỏi người tài xế taxi một cách vô thưởng vô phạt: Biệt thự của những ai mà đẹp thế? Do dự một chút anh tài xế dè dặt trả lời: Nhà của dân. Nguyễn Xuân Thâm tiếp Nhà của dân, của dân gian ấy mà!
Trên đường trở về Thâm bảo xe taxi chạy qua công viên Lenin. Giữa công viên chiếc tượng Lenin bằng đá sừng sững, cô đơn, lưng tựa vào một hàng cây xanh thẳng tắp. Thâm bảo tôi: Bạn nhìn tượng Lenin kìa. Đó là bức tượng duy nhất còn lại trên thế giới. Nước ta cái gì cũng khác người! Tôi im lặng hiểu Thâm muốn nói gì. Người tài xế taxi cũng im lặng nốt. Năm 1991 sau cuộc đảo chánh lật đổ Gorbachev bất thành, Gorbachev ra lệnh giải tán đảng cộng sản Liên xô dân chúng Mạc Tư Khoa xuống đưòng giật sập tượng Lenin ở trung tâm thành phố. Dân các nước Đông Âu nhanh chóng theo gương dân Mạc Tư Khoa. Theo yêu cầu của Thâm taxi đưa anh đến bệnh viện nơi anh sẽ được mổ. Bệnh viện nằm đối diện với Hà Nội Towers trước kia là nhà lao Hỏa Lò nơi từng giam giữ các nhà cách mạng chống Pháp và gần đây nhất giam phi công John McCain sau trở thành Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Nhà thiết kế Hà Nội Towers để dành một dãy nhà gồm mấy căn mái ngói và một tháp canh để – theo tài liệu – nhớ đến tội ác của đế quốc. Tôi hỏi Thâm xuống bệnh viện làm gì. Thâm nói: Mình vào thay áo quần bệnh nhân nằm một chút rồi về. Nếu không giữ chỗ mỗi ngày người khác sẽ giành mất giường khi mổ không có chỗ nằm Nghe Thâm giải thích tôi vẫn không hiểu nổi cách quản trị của các bệnh viện ở Hà Nội. Thâm bắt tay tôi và xuống xe. Tôi bùi ngùi nhìn theo Thâm bước vào bệnh viện. Ngày mai tôi vào Huế.
ẢI NAM QUAN
Nếu không có vụ ghi vé máy bay đi Trung quốc của Phương Tâm và Paul trục trặc tôi đã không có dịp thăm Aûi Nam Quan. Không lấy được vé chuyến bay Hà Nội – Côn Minh như đã định, Phương Tâm và Paul quyết định dùng đường bộ đi Trung quốc qua ải Nam Quan. Tôi và Cương tháp tùng và nhân thể thăm cửa ải lịch sử Việt Trung. Ải Nam Quan còn được gọi là cửa Hữu Nghị để ghi tình bằng hữu giữa Trung quốc và Việt Nam. Hữu nghị nhưng vẫn đánh nhau trong suốt chiều dài của lịch sử . Trận đánh gần nhất cách đây hơn 20 năm. Hằng vạn quân Trung hoa tràn qua san bằng hai thành phố Đồng Đăng và Lạng Sơn, tiến sát Bắc Giang, uy hiếp thành phố Hà Nội. Nếu Trung quốc không sợ Liên bang Xô viết đánh úp sau lưng phá hủy cơ sở nguyên tử của mình có lẽ Trung quốc đã tiến xuống Hà Nội.
Quốc lộ số 1 nối liền Hà Nội Lạng Sơn dài chừng 150 cây số đã được trải nhựa và nới rộng. Xe chạy hai chiều, hai bên có lối dành cho xe gắn máy, xe đạp và người đi bộ. Xe du lịch thuê bao có thể chạy 80 cây số giờ. Vào tỉnh Lạng sơn tuy đường núi quanh co hiểm trở xe vẫn còn chạy được 40 cây số. Bỏ đồng bằng Bắc Giang vào tỉnh Lạng Sơn phong cảnh thật là hùng vĩ. Những ngọn núi đá cao thấp san sát chen nhau điểm giữa những cánh rừng thưa tưởng như một vịnh Hạ Long khác trên đất liền nếu rừng ngập nước. Qua ải Chi Lăng, nơi sáu thế kỷ trước vua Lê Lợi giết Liễu Thăng trên vách núi còn ghi trang sử cũ. Nhìn đồi đá cheo leo lối đi hiểm trở tôi thầm phục người xưa khéo chọn chỗ phục kích giết tướng địch và tưởng tượng trước mắt mình hàng ngàn chiến sĩ anh dũng đang ào ạt lăn xả vào đoàn quân Bắc xâm lăng. Tướng Liễu Thăng chết, Việt Nam thu hồi lại nền độc lập.
Đây rồi Lạng Sơn, thành phố lớn địa đầu! Năm 1950 Lạng Sơn chứng kiến cuộc rút lui thê thảm của quân đội viễn chinh Pháp. Năm 1979 Lạng Sơn bị quân Trung quốc san thành bình địa. Nhà cửa đã được tạm xây cất lại cùng với thị trấn biên giới Đồng Đăng. Lạng Sơn và Đồng Đăng phố xá luộm thuộm đây đó còn dấu vết đá tảng, gạch vụn của những vụ xây cất dở dang. Đường phố bụi mờ nóng như lửa của tháng Tư vùng núi. Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, ca dao hát vậy nhưng chợ Kỳ Lừa không còn ở Đồng Đăng. Kỳ Lừa nằm sừng sững giữa thành phố Lạng Sơn. Hỏi tại sao? Dân địa phương không ai giải thích. Sinh hoạt buôn bán vùng biên giới quá bận rộn, và họ còn bận tâm xây dựng nhà cửa. Rời Lạng Sơn trực chỉ hướng Bắc lên biên giới, cột cây số đường ghi: Hữu Nghị Quan 11 cây số, Đồng Đăng 8 cây số. Một trạm hải quan lớn nằm giữa Lạng Sơn và Đồng Đăng. Hàng trăm xe tãi từ Trung quốc chở hàng vào nằm chờ khám biến một khoảng đường quốc lộ dài gần một cây số thành một chợ nhỏ, đường sá bụi mờ như một đoàn quân chờ ra mặt trận. Một mặt trận kinh tế. Số hàng chính thức qua biên giới và hàng trăm tấn hàng hằng ngày qua các lối khác giữa biên giới dài giữa hai nước Việt Trung là một mặt trận kinh tế lớn của Việt Nam.
Qua khỏi Đồng Đăng tôi nóng lòng xem ải Nam Quan. Sách sử địa lớp ba thời Pháp thuộc in hình ải Nam Quan uy nghi như cửa Thượng Tứ hay cửa Đông Ba của kinh thành Huế. Trạm hải quan gồm một ngôi nhà trệt rộng thênh thang có đủ phòng sở quen thuộc của một cơ sở hải quan biên giới nằm bên trái quốc lộ số 1 cách biên giới chừng trăm thước. Tận cùng của quốc lộ là cổng biên giới. Cổng đơn giản chỉ là một thanh gỗ dài vắt ngang qua quốc lộ quay lên xuống được và một trạm gác nhỏ do một tiểu đội công an canh giữ. Phóng mắt nhìn phương Bắc sau trạm gác nhỏ tôi không thấy hình bóng gì của ải Nam Quan. Tôi hỏi một sĩ quan hải quan trong khi Phương Tâm và Paul làm thủ tục nhập cảnh: Tôi muốn xem Hữu Nghị Quan có được không? Anh sĩ quan trẻ tuổi chỉ chiếc cổng biên giới trả lời: Sau chiếc cổng kia 20 thước là hết biên giới nước ta. Hữu Nghị Quan nằm sâu trong đất Trung quốc ở đây không thấy được. Còn thắc mắc nhưng tôi không hỏi thêm. Tiễn vợ chồng Phương Tâm tay xách lưng mang hành lý bước qua biên giới tôi thấy cách một độ đường sau cổng nhỏ một bệ đá xi măng bên vệ đường ghi nguệch ngoạc: Cửa Hữu Nghị. Hai năm trước Việt Nam và Trung quốc ký một thỏa ước về biên giới trên đất liền. Bản văn của thỏa ước không được phổ biến, và có tin đồn Việt Nam đã nhường cho Trung quốc nhiều cao điểm biên giới. Mới đây sau Đại Hội 9 của đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Khả Phiêu mất chức Tổng bí thư. Nội bộ đảng kết ông Lê Khả Phiêu 4 tội trong đó có tội đã nhượng bộ quá nhiều cho Trung quốc khi ký thỏa ước biên giới trên đất liền. Sự thật còn chờ đảng phổ biến bản thỏa ước biên giới Việt-Trung. Như nhận xét của giáo sư Nguyễn Xuân Thâm, nước ta cái gì cũng khác người. Một thỏa ước biên giới liên quan đến vận mệnh và an nguy của đất nước dân cũng không có quyền biết!
CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT S7:
Hôm 27/3 Cương và tôi đáp chuyến tàu Thống Nhất S7 từ Huế đi Nha Trang. Có hai loại tàu Thống Nhất xuyên Việt. Loại mới nhất chạy nhanh, chỉ ngừng ở một số ga chính như Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Loại thường chạy chậm hơn và ngừng ở nhiều ga. S7 là tàu Thống Nhất loại thường từ Huế vào Nha Trang ngừng ở Lăng Cô, Đà Nẵng, Tam Quan, Diêu Trì, Qui Nhơn, Tuy Hòa. Tôi định lấy chuyến tàu Thống Nhất chạy nhanh nhưng vì một lý do chợ đen chợ đỏ, cô bán vé ở ga Huế không muốn bán cho chúng tôi bảo rằng chuyến tàu tôi muốn đi không đáp tại Nha Trang. Sau này hỏi nhân viên hỏa xa trên tàu tôi biết chuyến tàu Thống Nhất nào cũng đều ghé Nha Trang. Nhưng chuyện đã rồi.
Ngăn phòng ngủ của chúng tôi có 2 dàn, mỗi dàn có đến 3 giường chồng lên nhau khá chật. Cương và tôi mỗi người một giường dưới cùng. Ngăn phòng đã có 3 người khách. Bên trái, chị Lan 45 tuổi giáo sư trường đại học sư phạm Kontum nằm giường trên, chị Vân 37 tuổi nhà báo quân đội nằm giường giữa. Bên phải, cũng giường giữa, anh Vinh, 35 tuổi Trung úy công an; giường trên cùng còn trống dành cho bà Hồng một phụ nữ người Huế khoảng 55 tuổi trông còn xuân sắc mới lên tàu cùng với Cương và tôi ở ga Huế. Lên tàu bà Hồng leo lên giường ngủ, cằn nhằn: Cái nước gì mà mua vé tàu cũng phải đút lót. Cần đi gấp chạy vạy mãi mất thêm 50 ngàn đồng mới được cái chỗ quí báu này đây Tàu vừa chạy đã nghe tiếng bà ngáy đều. Trước khi tàu đến Huế hai giường dưới còn trống nên chị Lan và Chị Vân dùng giường bên trái giường của Cương – làm chỗ ngồi nói chuyện với nhau. Anh sĩ quan công an nằm nghiêng nơi giường mình góp chuyện với hai người. Cương ra cửa sổ hành lang nhìn phong cảnh.
Qua khỏi Phú Bài đường xe lửa xuôi nam thẳng tắp. Chuyến tàu S7 phom phom phóng mình dưới bầu trời sáng điểm mây thấp, bên phải là đồi núi, bên trái là đồng lúa xanh rì. Xem phong cảnh chán, Cương ngồi ghé ở giường mình không tỏ ý muốn nằm. Được thể, chị Lan và chị Vân tiếp tục ngồi nói chuyện với anh Vinh. Câu chuyện của 3 người khá tương đắc. Họ kể cho nhau nghe công tác hiện tại. Chị Lan vừa xong khóa tu nghiệp giáo sư ở Hà Nội trở về nhiệm sở. Chị sẽ xuống ga Diêu Trì đáp xe đò đi Kontum. Chị là con một huyện ủy viên ở Phú Yên thời chống Pháp. Chị theo cha mẹ tập kết ra Bắc năm 1 tuổi. Chị nói giọng Hà Nội pha Bình Định, âm điệu và nội dung còn tha thiết với quê hương của bố mẹ. Chị Lan đẹp một cách gọn gàng. Chị Vân từ Hà Nội được phái vào Nha Trang tham dự thành phần giảng huấn cho một khóa huấn luyện phóng viên quân đội ngắn ngày. Giọng Hà Nội, trẻ, khuôn mặt xinh xắn, nước da trắng ngà, hơi đẫy người, tính tình cởi mở. Chị nói biến cố giải phóng miền Nam năm 1975 không để lại một ấn tượng gì sâu đậm nơi chị. Năm ấy chị mới 10 tuổi. Chị hài lòng với công việc hiện tại. Anh Vinh ít nói chỉ tiếp chuyện với hai chị Lan và Vân và đặc biệt lịch sự với chị Vân. Hai người trạc cùng tuổi. Anh uống bia và mời chị Vân. Chị Vân từ chối viện cớ hơi mệt.
Tàu chạy nhanh đong đưa điểm nhịp khi bánh xe chạm chỗ nối của đường sắt. Tôi nằm yên không ngủ được theo dõi câu chuyện của 3 người. Câu chuyện cởi mở nhưng dè dặt và tôi nghĩ nếu họ có gì không bằng lòng với hiện tại họ cũng không thổ lộ với nhau. Tàu ngừng ở Lăng Cô để thêm một đầu máy trước khi lên đèo Hải Vân. Trời mưa lất phất. Nhiều cô bé co ro trong chiếc áo mưa không che kín thân chạy tới chạy lui rao mời khách mua cũ lang, cũ khoai mì luộc, bánh tráng, mía tiện thành thỏi nhỏ bọc trong túi ni lông. Có cả mực khô và bia lon. Một số người tàn tật lê mình khó nhọc trên chiếc nạng gỗ đến xin tiền bố thí của khách. Tiếng động khác lạ bên ngoài làm bà Hồng thức giấc. Bà nhanh nhẹn leo xuống giường, mua một túi mía, một chai nước ngọt, cho tiền những người tàn tật rồi im lặng ngồi ké bên giường tôi uống nước.
Một người đàn ông trung niên đi qua ngoài hành lang. Chị Lan chào thầy Mẫn. Nhận ra cô học trò cũ xinh đẹp từng học với thầy tại trường đại học sư phạm Huế thầy cười thật tươi. Chị Lan kể: Thầy Mẫn đỗ tiến sĩ văn chương tại Trung quốc, dạy môn văn. Thầy hiền lắm. Lúc dạy lớp cao học, ai cũng được thầy cho điểm cao. Có người chất vấn thầy sao giỏi dốt gì thầy cũng cho điểm cao, thầy cười trả lời rất tếu: Đã học cao học rồi thì ai cũng đáng được điểm cao. Đang trầm ngâm bà Hồng chen vào câu chuyện: Chuyện thầy bà của chị làm tôi giật mình. Giáo dục là điều quan trọng nhất của một quốc gia. Người thầy không làm tròn chức năng để di họa cho muôn người. Thầy Mẫn của cô tốt thật nhưng lối giáo dục của thầy có hại cho thế hệ tương lai. Nước mình làm sao khá lên được! Cương im lặng ngồi nghe. Tôi chờ đợi phản ứng của chị Lan, hay nếu không chị Lan sẽ là chị Vân hay anh Vinh. Nhưng chị Lan chỉ hơi xoay người lại tỏ ý không muốn lý sự với bà Hồng. Vân và Vinh im lặng. Vinh tiếp tục nhắp bia, mời chị Vân một lần nữa mắt đăm chiêu nhìn bên ngoài.
Cương gợi chuyện với bà Hồng. Bà tâm sự: Chị đi buôn. Khi tan hàng chị đã có 6 con, con năm một, chồng chị đi học tập, trước khi đi ảnh còn để cho chị một cái bầu. Năm 1976 chị sinh cháu út bà con ai cũng lo cho tương lai của chị. Nhưng chị quyết phấn đấu nuôi con chờ chồng. Các tuyến đường xe lửa là nơi sống của chị, chị mua hàng từ thành phố này sang bán thành phố kia. Đàn con chị gởi cho một người chị coi sóc. Nói là gởi nhưng thật ra đứa con lớn 10 tuổi coi đàn em nhỏ dưới mái nhà của người chị. Bà thủ thỉ với Cương: Em ơi, khổ lắm, đang học đại học chị lấy chồng có biết buôn bán là gì. Thế rồi vật lộn với đời sống, vật lộn với những cuộc đuổi bắt của công an trong thời kỳ xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cấm buôn bán rồi cũng quen dần. Một thằng con trai của chị cực quá chịu không nổi bỏ nhà theo bạn bè vượt biên nay ở Seattle bên Hoa Kỳ. Còn bầy con ở lại bây giờ đứa nào cũng đã lập gia đình và tạm ổn định. Chỉ tội không có đứa nào được ăn học, thiếu thốn tiền bạc một phần, nhưng chính yếu vì lý lịch. Bà Hồng nói lúc này bà vẫn còn đi buôn nhưng chỉ giao hàng sỉ. Hàng được đóng thùng có người đưa lên tàu, đến nơi có người nhận lãnh, bà chỉ theo hàng để thanh toán tiền nong. Chồng chị tù cải tạo 12 năm, đang chờ phỏng vấn diện HO thì mắc bệnh qua đời. Thế là cả gia đình chị kẹt lại.
Tỏ ý không quan tâm câu chuyện giữa bà Hồng và Cương, chị Lan, chị Vân và người sĩ quan công an nối lại câu chuyện với nhau. Chị Vân kể chuyện một lần đi công tác xuống ga Đà Nẵng ban đêm chị thấy những người phu khuân vác không nhà ngủ la liệt trên sân ga. Theo chị làm việc đâu ngủ đó thật là giản tiện. Không bỏ lỡ cơ hội bà Hồng khiêu khích: Giản tiện nhưng đau lòng. Một nước cũng như một nhà. Nếu bố mẹ không làm tròn bổn phận con cái phải khổ. Dân còn không nhà không cửa cù bơ cù bất sau bao nhiêu năm hòa bình thì ai có trách nhiệm? Chị Vân đỡ lời: Thì cũng phải có thì giờ cho các cụ (người trong nước có thói quen gọi một cách vô thưởng vô phạt mấy ông già trong Bộ chính trị bằng cụ.) Bà Hồng tiếp: Học cũng phải có căn bản. Một ông bác sĩ học 6 tháng có thể làm ruộng giỏi như một nông dân, nhưng người nông dân học mãi cũng chẳng trở thành bác sĩ. Toa giường ngủ trở nên im phăng phắc chỉ còn nghe tiếng gió xào xạt ngoài thân tàu hòa với tiếng bánh xe đập lạch cạch trên đường sắt. Chị Lan xoay người quay lưng lại bà Hồng giả vờ ngủ. Anh sĩ quan công an mang một cuốn sách nhỏ ra đọc trong khi chị Vân im lặng trầm ngâm. Để đánh tan không khí căng thẳng, Cương gợi chuyện với chị Vân. Cương trạc tuổi chị Vân. Chị hỏi về nước Mỹ, cách sống và không dấu diếm ước vọng phải chi có dịp đi Mỹ một chuyến cho biết. Tôi thấy chị và Cương trao đổi địa chỉ e-mail với nhau.
Tàu đến ga Tam Kỳ anh sĩ quan công an xuống xe. Chị Lan sắp xuống ga Diêu Trì. Chị nhờ Cương: Đến ga chị nhờ em mang giúp chị hai va-li ra cửa ga, chị còn hai xách tay nữa. Lúc nãy thầy Mẫn hứa đến ga thầy giúp nhưng chị ngại làm phiền thầy. Bà Hồng can thiệp: Thôi chị ơi, tàu chỉ ngừng ở ga Diêu Trì mấy phút, lỡ trễ xe con người ta thì sao. Cho phu vài ngàn đồng họ mang ra cho, làm gì mà hà tiện quá vậy. Thấy bà Hồng có lý tôi qua ngăn tàu bên cạnh nhắc thầy Mẫn. Tàu ngừng, thầy Mẫn sang lễ mễ xách hai chiếc va-li nặng trĩu của chị Lan xuống tàu. Tôi chúc chị Lan trở về bình an và nói nhỏ với thầy Mẫn: Dạy nữ sinh viên trẻ đẹp cũng phiền nhĩ? Ở ga Diêu Trì hai cô sinh viên khác lên tàu trám chỗ. Tàu chạy bà Hồng leo lên giường và chỉ một chốc đã nghe tiếng bà ngáy ngon lành. Tôi chợp mắt được một lát thì tàu tới Nha Trang. Đúng nửa đêm ngày 27 tháng 3. Tàu trễ một giờ.
TRỊNH CÔNG SƠN VĨNH BIỆT CUỘC ĐỜI
Tôi ở Nha Trang. Hôm nay là ngày 1 tháng 4. Người Pháp gọi là Poisson dAvril, người Mỹ gọi là April Fool, người Việt nói theo người Pháp gọi là Cá tháng Tư. Loan tin vịt gì cũng được, ai tin ráng chịu. Hôm ấy mấy chuyện nho nhỏ đối với tôi rất thật, không fool chút nào cả. Bác Chuẩn, người bạn già của tôi 78 tuổi đạp xe đạp 10 cây số 6 giờ sáng đã có mặt ở bãi biển Nha Trang để cùng tắm với tôi. Chúng tôi thân nhau, hiểu nhau và coi nhau như anh em. Phương Tâm từ Hà Nội bay vào, vợ chồng Lưu và Diệu Trang từ Sàigòn bay ra. Sáu giờ chiều ăn cơm ở Biển Tiên nằm trên một con đường lớn mới mở chạy thẳng từ đường Duy Tân nay đổi là Trần Phú dọc bờ biển Nha Trang qua cửa sông Nha Trang băng qua Bãi Dương, Đồng Đế với vợ chồng Lưu Diệu Trang, vợ chồng Lý, vợ chồng Duy, vợ chồng Châu và Nhự độc thân tại chỗ.
Mặt quốc nội và quốc tế hôm ấy có nhiều tin giật gân. Quốc nội, tại Hà Nội các Ủy viên Bộ chính trị đấm đá nhau ác liệt giành chức tổng bí thư. Tại Sài Gòn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chết vì bệnh tiểu đường. Tin quốc tế, máy bay khu trục Trung quốc ép và đụng máy bay trinh thám Mỹ ngoài khơi bờ biển Trung quốc. Phi công Tàu nhảy dù xuống biển mất tích, máy bay Mỹ bể một đầu cánh đáp an toàn đáp xuống Hải Nam với phi hành đoàn 24 người. Tất cả đều là tin thật. Nhưng ở Việt Nam không ai quan tâm đến nội bộ đảng cộng sản dù những ngày đầu tháng Tư cuộc tranh chấp gay cấn đến độ nơi làm việc của một vài Ủy viên quan trọng Bộ Chính Trị đã được bố trí súng phòng không. Tin đồn Lê Khả Phiêu nhất định bám chức Tổng bí thư mỗi đêm phải đổi chỗ ngủ sợ phe chống đối áp lực bằng vũ lực. Dân cũng không chú ý đến căng thẳng ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung quốc.
Hình như đối với dân trong nước tin gì cũng là tin dõm đáng liệt vào loại cá tháng tư, chỉ có tin Trịnh Công Sơn qua đời là tin thật. Cả nước xôn xao, nhất là giới trẻ. Trong quán ăn, rạp hát, quán cóc bên hè phố, nơi bạn bè gặp gỡ nhau, trong công sở nơi nào cũng nói đến Trịnh Công Sơn. Tin chung quanh cái chết của Trịnh Công Sơn là tin hàng đầu của báo chí. Đường Phạm Ngọc Thạch, quận 3 nơi quàn linh cửu của Trịnh Công Sơn xe cộ không thể lưu thông, chật cứng bởi hàng ngàn xe hai bánh của giới trẻ. Giới trẻ ngưỡng mộ Trịnh Công Sơn một cách tự nhiên. Họ yêu nhạc của anh, yêu lời của những bài hát thách thức mọi nguyên tắc văn phạm như xuất ra từ những giấc mơ miên viễn của người nhạc sĩ đa tài lừng lững thấm vào tâm thức người nghe. Nguyễn Minh Triết, thành ủy Sài gòn, người đảng viên lớn nhất ở miền Nam, nhạy cảm với phản ứng của giới trẻ đã trân trọng đến chia buồn với thân nhân và phúng điếu trước linh cửu Trịnh Công Sơn. Ông Triết cẩn thận cho chụp hình ông áo sơ mi trắng, cà vạt đen thân mật ngồi bên cạnh hai cô em gái của Trịnh Công Sơn để đăng báo. Hai ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh một thời từng giữ các chức vụ thành ủy Sài Gòn, thủ tướng và Tổng bí thư sợ bị dân chúng chê quê một cục cũng gởi quà phúng điếu với tư cách cá nhân. Dư luận Sài gòn mổ xẻ từng chữ cảm tưởng của ca sĩ Khánh Ly, người Trịnh Công Sơn ghi trong một thủ bút của anh năm 1995 là một người bạn của định mệnh, vĩnh viễn thương yêu nhau. Khánh Ly nói: Cách đây hai năm tôi gặp ông lần cuối … tôi cũng linh cảm điều đó … Thật ra ông Trịnh Công Sơn không phải của riêng ai cả, ông là của tất cả mọi người … Việc ông ở lại và nằm xuống trên quê hương là điều đúng bởi vì ông Sơn là người yêu quê hương và dân tộc. Từ ông tôi thành danh và quan trọng hơn cả là tôi thành nhân. Tôi đã sống cùng tên tuổi ông gần 40 năm với những lời ông dặn. Phải luôn luôn sống giữa đời với một tấm lòng và sống với người với sự tử tế. Ông Trịnh Công Sơn là một nửa đời sống của tôi. Tình cảm Khánh Ly dành cho Trịnh Công Sơn thật tha thiết đậm đà, nhưng sao chữ Ông ơ hờ lạc lõng thế? Khánh Ly cần một khoảng cách tế nhị với Trịnh Công Sơn để làm gì?
Đa số người lớp tuổi 60 không thích Trịnh Công Sơn như giới trẻ 30. Họ trách Trịnh Công Sơn đã sáng tác những bài ca ru ngủ trong thời kỳ chiến tranh, trách anh phản chiến, trách anh say sưa. Chỉ một phần nhỏ thông cảm sự trăn trở của Trịnh Công Sơn trước thân phận một nước nhược tiểu trần mình giữa hai lằn đạn. Anh đắm chìm vào những giấc mơ kỳ bí bằng rượu mạnh để toát ra những lời ca buốc lòng người. Quá trình quan hệ giữa Trịnh Công Sơn với chính quyền từ năm 1975 cho đến ngày anh nằm xuống là một quá trình đấu tranh để giữ tư cách của người nghệ sĩ. Sau khi thành lập chính quyền mới đảng cộng sản ao ước gì hơn là Trịnh Công Sơn sáng tác cho một bản nhạc ca ngợi Hồ Chí Minh, ca ngợi đảng. Bài hát chờ đợi không ra đời, anh bị trù yếm. Người ta đưa anh về quê ở Huế giao cho những chức vụ thật kêu. Người ta cho anh đi nước ngoài thầm mong anh ở lại luôn cho rảnh mắt anh vẫn lù lù trở về. Bằng sự can đảm hiếm có anh nắm được quả tim của quần chúng buộc người cầm quyền không thể hờ hững trước cái chết của anh để vớt vát rằng Trịnh Công Sơn trước sau vẫn là phe ta. Anh không là của ai cả.
TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT CÒN
Nhà nước cộng sản chủ trương làm trong sáng tiếng Việt. Trong thời kỳ còn chiến tranh và nhất là sau khi chiến thắng họ đẩy chủ trương trên đến độ lố bịch. Nhà hộ sinh đổi lại là xưỡng đẻ, nam học sinh, nữ học sinh gọi là học trò trai, học trò gái, cầu tiêu gọi là nhà ỉa… Vì chướng tai nên các danh từ năng nổ trên biến mất với thời gian. Một hiện tượng ngược lại xuất hiện. Nhiều tiếng Việt thông dụng được thay bằng tiếng Hán Việt lù mù hơn. Dàn bài dạy học gọi là giáo án, khởi công gọi là thi công … Lúc ngược lúc xuôi tùy hứng và tùy tiện không theo một nguyên tắc nào.
Chưa hết, chính sách (hoặc không chính sách) của Nha Du lịch Quốc gia mới là lạ. Ngoài Hà Nội gợi hiếu kỳ, Huế là nơi thu hút nhiều du khách sau khi kinh thành Huế với lăng tẩm và hoàng thành được Liên hiệp quốc công nhận là bảo vật của thế giới. Trong các lăng tẩm lăng vua Tự Đức đẹp nhất. Lăng vua Tự Đức gọi là Khiêm Lăng nằm vắt trên một ngọn đồi thông hùng vĩ ở Vạn Niên bên hữu ngạn sông Hương.
Thăm Huế lần này tôi trở lại Khiêm Lăng, nơi mang nhiều kỷ niệm của tôi thời thơ ấu. Bước qua cổng chính, một con đường lát gạch tảng hai bên đường trồng hoa sứ nở trắng xóa, cánh trắng, lòng vàng tỏa ra mùi thơm mát dịu dẫn vào lăng. Nhà mát, nơi vua Tự Đức câu cá thuở sinh tiền dựng trên một hồ sen bên phải. Giữa hồ là một núi non bộ. Bên trái chót vót trên mấy chục bậc thang là mộ vua Tự Đức. Leo hết các bậc thang tôi ngẫu nhiên đứng trước tấm bia đá lớn chằng chịt chữ Hán được dựng trước mộ vua Tự Đức cùng với một du khách người Canada. Du khách hỏi tôi có phải là người Việt? Tôi trả lời khẳng định. Ông ta hỏi tiếp: Có hai cách viết tiếng Việt phải không? Tôi chưa kịp hiểu câu hỏi thì du khách chỉ vào tấm bia giải thích: Tôi biết người Việt dùng mẫu tự a, b, c. như chúng tôi, còn chữ kia giống chữ của người Tàu là lối viết khác? Vỡ lẽ, tôi bỗng thấy ngượng vì nhìn tấm bia chằng chịt chữ Tàu tôi cũng không hiều một chữ nào. Tôi trả lời: Thưa không, chúng tôi chỉ có một lối chữ viết, chữ trên tấm mộ bia kia là chữ Tàu. Vẫn chưa hết ngạc nhiên du khách hỏi: Thế sao không có bản dịch ra chữ Việt cho người Việt và một bản tiếng Anh cho người nước ngoài. Tôi không biết phải trả lời sao với du khách. Chẳng lẽ nói Nha Du Lịch Quốc Gia bận chưa làm, hay Nha Du Lịch không quan tâm, Nha Du Lịch ….
Sự tò mò của người du khách làm tôi liên tưởng đến những tấm bia chữ Hán khác khắc trên đá cẩm thạch, những tấm hoành phi rực rỡ chữ vàng viết trên nền đỏ gạch tôi thấy ở Văn Miếu, Phủ Tây Hồ, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc ở Hà Nội, ở cửa Ngọ Môn, Phu Văn Lâu và trong hoàng thành Huế, và vô số những nơi khác. Đứng trước chúng như đứng trước một rừng cây. Tôi bỗng ước ao được hiểu ý nghĩa của những dòng chữ trên những tấm bia, những bức hoành phi chữ Hán. Tôi sẽ biết nhiều hơn các bài sử khô khan đã học. Tôi sẽ gần gũi hơn với lịch sử nước nhà và biết đâu tôi sẽ tự hào hơn về quê hương mình. Tôi tự hỏi tại sao một vấn đề đơn giản như vậy mà Nha Du Lịch có từ ngày chính phủ Bảo Đại, qua chính phủ ông Diệm, ông Thiệu, ông Hồ với 26 năm hòa bình và ngành du lịch là ngành được Nhà nước khuyến khích mà không ai làm. Tự vấn mình sao những rừng chữ Hán đó thấy từ thuở còn để chỏm mà không thắc mắc, cho đến khi bị một người ngoại quốc chất vấn? Có lẽ ảnh hưởng của Khổng học thấm vào xương tủy mà chúng ta không hay. Chúng ta vọng ngoại, chúng ta coi thường chính chúng ta. Chúng ta là những người thiếu văn hóa. Tôi bỗng tìm ra nguyên nhân tại sao giải đất Việt Nam hình chữ S được thiên nhiên ưu đãi như vậy, con người Việt Nam thông minh kiên cường như vậy, mà bước vào thế kỷ 21 đất nước vẫn điêu linh, dân vẫn khổ.
HUYỀN THOẠI CỦ CHI
Gái Củ Chi, chỉ cu anh, hỏi: củ chi?
Đó là câu đối tôi nghe người tài xế xe taxi bảy chỗ ngồi chở chúng tôi đi thăm địa đạo Củ Chi đố người phụ xe. Thấy người phụ xe chưa hiểu, anh tài xế nói: mầy nói lái Củ Chi thành chỉ cu thì hiểu.
Hôm 10 tháng 4 tôi cùng vợ chồng một người bạn thân và 2 cô cháu gái đi viếng địa đạo Củ Chi. Quận Củ Chi thuộc tỉnh Bình Dương là một quận trù phú gồm đồng bằng và rừng cây thấp cách Sài Gòn khoảng 30 cây số về hướng Tây Bắc. Trong vùng rừng cây thấp có một địa đạo đào sâu dưới lòng đất gồm 3 tầng hầm cao thấp khác nhau để cho các du kích ẩn náu, nghỉ ngơi và đánh phá các đơn vị Mỹ đóng trong vùng Bắc Sài Gòn. Trong thời kỳ chiến tranh các bản tin quân sự thỉnh thoảng thông tin các cuộc đụng độ tại Củ Chi giữa quân đội Mỹ và du kích Bình Dương.
Sau chiến tranh địa đạo Củ Chi được miêu tả như là một hệ thống địa đạo dài mấy trăm cây số đào ngay dưới các đơn vị đóng quân của Hoa Kỳ và quân đội Mỹ đã dùng mọi vũ khí có trong tay vẫn không hủy diệt được địa đạo. Nhân viên hướng dẫn nói với du khách ngoại quốc rằng trong thời kỳ chiến tranh các du kích dưới các địa đạo thường xuất hiện từ các miệng hầm nằm ngay giữa căn cứ quần thảo với quân đội Mỹ rồi chui biệt tăm vào hệ thống hầm hằng chịt ở dưới. Qua miêu tả chính thức của chính quyền và qua những lời truyền miệng của các du khách nước ngoài dễ tính, Củ Chi biến thành một huyền thoại, một địa danh du lịch hấp dẫn.
Chúng tôi đến nơi vào một buổi sáng nóng và ẩm. Địa đạo nằm bên trái tỉnh lộ Bình Dương, bên kia đường là cơ sở tiếp khách, quầy bán vé, phòng chiếu phim tài liệu, phòng triển lãm và quán giải khát, quán ăn. Ở đây ngoại trừ các cô ngồi ở quầy vé, các nhân viên phục dịch khác đều ăn mặc như du kích. Chúng tôi đến nơi vừa hết giờ xem chiếu phim nên chúng tôi theo người du kích hướng dẫn viên đi xem địa dạo trước. Chúng tôi được hướng dẫn qua các đường hầm gồm cửa vào và cửa ra gần đó và được giới thiệu là một phần của một hệ thống địa đạo dài 250 cây số, qua phòng trưng bày hầm chông và mìn bẩy, các phòng họp, phòng nghỉ ngơi dưới mặt đất, được cho xem những quả bom không nổ đã được rút ngòi và một hố bom B52 đường kính rộng chừng 10 mét sâu chừng 8 mét cỏ đã phủ kín. Người hướng dẫn cho biết người Mỹ đã thả hàng trăm trái bom như vậy nhưng sau chiến tranh đã được lấp bằng. Nhìn quanh tôi không thấy dấu vết của tàn phá như vậy. Trước một miệng hầm một chị du kích hướng dẫn đang thuyết phục một phụ nữ Nhật Bản không nên xuống hầm vì thiếu không khí, chị có thể bất tỉnh. Người phụ nữ Nhật Bản, có lẽ là một phóng viên đi tìm sự thật, nhất định xuống hầm. Tôi chờ chị xuống và thấy chị tươi tỉnh ra khỏi miệng hầm đầu kia. Trở về phòng chiếu phim chúng tôi được xem một cuốn phim đen trắng, nội dung đơn sơ, phần đầu tuyên truyền công cuộc chống Mỹ cứu nước, phần còn lại nói về các cuộc bỏ bom của không quân Hoa kỳ và các cuộc tấn công bằng thiết giáp và cuộc đánh trả của du kích Bình Dương. Không thấy cuốn phim nói gì nhiều về địa đạo Củ Chi: công trình xây cất, chiến công … như du khách chờ đợi. Cũng may bên trái màn ảnh là một họa đồ địa đạo Củ Chi có 3 tầng được vẻ một cách đơn sơ. Thấy phim không hấp dẫn tôi bước lại gần quan sát họa đồ.
Sau cuộc tham quan tôi có cảm tưởng Củ Chi là một huyền thoại hơn là sự thật, hay sự thật chỉ là một phần của huyền thoại. Huyền thoại có thể đã được xây dựng bởi các phóng viên báo chí Mỹ không ủng hộ sự can thiệp của Hoa kỳ và được khai thác bởi người chiến thắng. Trong thời kỳ chiến tranh họ ngồi ở Sài Gòn góp nhặt tin tức qua các bản tin quân sự, thêm thắt và phóng đại các chiến công của đối phương. Những chi tiết như hệ thống địa đạo dài 250 cây số, có nhà máy điện, bệnh viện, có nơi nghỉ ngơi cho cả tiểu đoàn v.v… là những chi tiết cần nhiều bằng chứng hơn để chứng tỏ là có thật. Về phương diện quân sự một hệ thống địa đạo như vậy cũng có thể được phá hủy nếu quân đội Hoa kỳ tận dụng các vũ khí cổ điển có trong tay.
Sau chiến tranh nhiều chiến binh Hoa Kỳ đã đến viếng địa dạo Củ Chi. Bây giờ chỉ còn du khách trẻ đa số từ Âu châu, Canada, rất ít du khách Hoa Kỳ. Người Mỹ đã chán. Tại sao họ không nói ra? Có lẽ vì tự trọng. Người thua không có quyền đính chính những gì người thắng nói. Hơn nữa huyền thoại Củ Chi nếu có cũng do Hoa Kỳ mà ra.
Tôi hỏi chú du kích hướng dẫn.
- Hồi còn chiến tranh em có biết gì về địa đạo Củ Chi không?
- Không. Em còn nhỏ, nhưng cha em từng chiến đấu ở đây.
- Chắc cha em kể lại nhiều chiến công li kì của ổng tại đây?
- Cũng ít thôi. Cha em đã hơn 50 tuổi, vốn ít nói. Hơn nữa ông còn bận chạy máy đuôi tôm chở khách nuôi mấy đứa em của em.
LY NƯỚC LƯNG DẦN:
Trên đường lên Tân Sơn Nhất trở về Hoa Kỳ tôi thấy một khẩu hiệu lớn viết trên tường một cao ốc ở quận 1: Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa để làm cho dân giàu nước mạnh, tạo lập công bình và xây dựng nếp sống văn minh. Từ cuối thập niên 1980 áp dụng kinh tế thị trường thì sinh hoạt kinh tế trở nên dễ chịu đối với giới buôn thúng bán mẹt, nhưng dân chưa giàu. Giàu chăng là cán bộ, đảng viên có quyền có thế và một số nhỏ không ở trong đảng nhưng biết mánh mung trong hệ thống thị trường lỏng lẻo. Đa số dân, nhất là nhân dân sống ở thôn quê làm ăn khó khăn và rất nghèo. Nước chưa mạnh. Sự kính nể của các nước láng giềng càng lúc càng giảm sút. Trung quốc áp lực lấn đất biên giới trên đất liền và các hải đảo. Không có sự công bình trong sinh hoạt chính trị độc đảng và do đó không có sự công bình trong xã hội. Nếp sống văn minh? Nếu xem văn minh là một ít phương tiện vật chất như truyền hình, máy lạnh, bếp ga, điện thoại cầm tay … thì Việt Nam có chút văn minh. Nhưng nếu hiểu văn minh là nếp sống tử tế, thành phần xã hội nào cũng biết sống trong khuôn khổ và nhiệm vụ của mình, ngay thẳng với nhau, có luật có lệ, người cầm quyền ra người cầm quyền, quan tòa ra quan tòa, thầy ra thầy, thợ ra thợ thì Việt Nam chưa thể gọi là có nếp sống văn minh.
Tôi liên tưởng đến thành phố Hồ Chí Minh, nơi các nhà mặt tiền rộng rãi thênh thang đều là nhà của cán bộ lớn của nhà nước, những người chẳng bao giờ biết đến địa đạo Củ Chi.
Ly nứớc Việt Nam lưng dần!

Trần Bình Nam

 

Cắt đất Tháng Bảy 3, 2008

Cắt đất bán cho Tàu, những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản đã bội ước với Nhân Dân Việt Nam

Tiến Sĩ Phan Văn Song


Trong Đại hội 9 (4-2001) hai chữ « Dân Chủ » mới được ghi lần đầu tiên làm một tiêu chí cuả Đảng Cộng Sản Việt Nam, sau khi đảng này ra đời 71 năm và nửa thế kỷ nắém chánh quyền. Việc sửa đổi Hiến Pháp vẫn không xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp cho phép Đảng Cộng Sản được quyền đứng trên tấùt cả và độc quyền toàn trị. Cũng chính từ Điều 4 này đã sinh ra quan liêu, tham nhũng, cho phép các « quan cộng sản » trở thành những triệu phú, trong lúc đại đa số nhân dân phải sống trong đói rách lầm than. Tệ hại hơn nũa Điều 4 HP đã cho phép Lê Khả Phiêu và Bộ Chánh trị của ông ta bán đất đai lãnh hải của ông cha ta cho Trung quốc qua hai « Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt Nam -Trung quốc » ký ngày 30-12-1999 nhường cho Trung quốc 789 km vuông, làm cho cửa Aûi Nam quan ngày trước nằm trên biên giới bây giờ hoàn toàn nằm trong đất Trung quốc, và «Hiệp định phân định lãnh hải » ký ngày 25-12-2000 nhường cho Trung quốc đến khoảng mười ngàn cây số vuông biển trong vịnh Bắc Việt . Mục đích của Lê Khả Phiêu là bán đất đểû mua sự ủng hộ của Trung quốc trong việc giành chức Tổng bí thư trong Đại hội 9 vừa qua mà thôi. Bán nhượng cho Trung quốc bao nhiêu trăm cây số vuông đất liền, khoảng chục ngàn cây số vuông lãnh hải, với mục đích dành nhau cái chức Tổng bí thư. Cuối cùng Lê Khả Phiêu
vẫn mất ghế . Bút sa gà chết, khốn nỗi cả Quốc hội « Đảng sai tôi gật » đã lở nhanh tayphê chuẩn rồi, cùng đồng lõa bán nước.
- Nói về Luật học, việc tập đoàn cầm quyền cuả Đảng Cộng Sản khi ký văn kiện bán nước trên, đã bội ước đối với nhân dân Việt Nam. Như vậy, nhàø cầm quyền Cộng Sản mang tội bán nước. Còn đối với lịch sử Việt Nam tập đoàn cầm quyền Cộng Sản đãû phản bội sứ mạng quản lý gìn giữ sự toàøn vẹn lãnh thổ của nước nhà. Nhà cầm quyền Cộng Sản mang tội phản quốc.
- Nói về Đạo lý, khi đã làm người cầm quyền, Nhà Nước Cộng Sản một khi đã lãnh sứ mạng lo cho dân, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, mọi việc quan trọng phải thông tin, truyền thông cho dân được biết. Khi âm thầøm thương thuyết ký kết việc bán nhượng trên, nhà cầm qyền Việt Nam đăït để nhân dân Việt Nam trước sự « việc đãû rồi », đó là một sự lường gạt.
Khi ký kết bán nhượng kia, tập đoàn cầm quyền CS đã xoá bỏ một loạt những di tích đấu tranh can trường của dân tộc Việt, trong suốt bốn ngàn năm, đâã bao lần đổ máu đề gìn giữ từng tấc đất cuả biên cương, họ mang tội bất hiếu đối với tổ tiên. Bội ước dối với nhân dân, nhà cầm quyền CS mang tội bất tín. Việc dành nhau những chức vị trong Đảng, làm nhu nhược Đảng, đưa từ thất bại này đến thất bại khác, tập đoàn Cộng Sản lãnh đạo này mang tội bất trung đối với Đảng của họ. Nhưng chúng ta hãy để họ xử lý với nhau. Việc đối xử với những cán bộ đảng viên tuy trung kiên với Đảng, nhưng còn một tấm lòng với đất nước như tướng Trần Độ, như các ông Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, bà Nguyễn Thi Thanh Xuân, các ông Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, bà Dương Thu Hương vì đã lên tiếng can gián, đả kích xây dựng nên bị bịt miệng quản thúc quản chế, như vậy là bất nghiã.
Còn đối với những người chống đối không thuộc thành phần Cộng Sản, những người đấu tranh lương tâm cho Dân chủ, cho Tự do tôn giáo, như Giáo Sư Nguyễn Đình Huy, năm nay đã trên 70 tuổi rồi mà còn phải tù chưa biết ngày ra, thầy Thích Huyền Quang tuổi trên 80 vẫn còn bị quản chếä, linh mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Que,á HT Thích Quảng Độ kẻ ngồi tù, người quản thúc, là bất nhẫn.
Bội ước, phản quốc, bất hiếu, bất tín, bất trung, bất nghĩa, bất nhẫn, tập đoàn cầm quyền Cộng Sản này đã xài hết tất cả những lá bài để tiếp tục cầm quyền. Điều 4 HP của họ có còn bao phép mầu nhiệm để tiếp tục làm tấm lá chắn để chính thức hóa sự lãnh đạo của Đảng?
Đã bắt đầu rồi bao nhiêu tiếng phản đối, đãûbắt đầu rồi bao nhiêu tiếng la thét, đã bắt đầu rồi bao nhiêu bài tố cáo Nhân đân Việt Nam từ nửa thế kỷ nay tuy có đói rách tù đày khó khăn, vẫn nghiến răng chấp nhận, nhưng cái nhục bán nước cho Tầu, kể từ nay sẽ là vết dơ không thể rửa được trên khuôn mặt người Viêt Nam.
Nhân dân Việt Nam còn đợi bao lâu nữa? đâu rồi những anh hùng Điện Biên chống Pháp, đâu rồi những dũng sĩ “chống Mỹ cứu nước”, đâu rồi các anh hùng dân quân địa đầu biên giới..? Nhân dân Việt Nam, sau nửa thế kỷ đấu tranh, hy sinh xương máu theo lời dụ dỗ cuả Đảng Cộng Sản, kháng Nhật, chống Tây, đánh Mỹ, cưỡng chiếm miền Nam thống nhứt trong đau khổ, độc lập trong thù hận, đã được hưởng cái gì? hay chỉ thấy ngày hôm nay, không một phát súng, bị anh láng giềng cướp bao nhiêu ngàn dặm vuông đất nước của cha ông để lại.
*Phải vùng đuổi những tên Việt Gian Bán Nước ấy. Phải vùng lên lấy lại chánh quyền, để lập lại Dân Chủ, để lập lại Tự do, để đòi lại mảnh đất giang sơn đã mất.

Kính thưa quốc dân, kính thưa đồng bào, tôi xin đề nghị:
Ở quốc nội hay ở hải ngoại, chúng ta kể từ nay, hãy mang một băng tang chờ một ngày rửa nhục.

Nam Linh Phan Văn Song

 

TỘI BÁN NƯỚC Tháng Bảy 3, 2008

TỘI BÁN NƯỚC

Hỡi ai mê mồi phú quý quên non sông
Hãy nghe đây lời tra vấn muôn năm
Sao nỡ đành …………………………………..
(Trích bài hát xử Việt gian năm 1945)

Trần Bình Nam

Làm tay sai giúp giặc chiếm đoạt quê hương là tội bán nước. Lợi dụng quyền lãnh đạo đất nước nhường đất cho ngoại bang vì quyền lợi riêng tư là tội bán nước. Nhóm lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam do Lê Khả Phiêu cầm đầu qua hai Hiệp định mang tên Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền Việt Nam Trung Quốc ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 đã nhường cho Trung quốc hàng trăm cây số vuông dọc biên giới bắc Việt Nam và hàng ngàn cây số vuông biển trong vịnh Bắc bộ.
Đảng cộng sản Việt Nam không công bố bản văn và bản đồ liên hệ của Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền, và mới đây Thứ trưởng ngoại giao Hà Nội Lê Công Phụng mới công bố một cách tóm tắt về Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ (trong Tạp chí Cộng Sản) nên không ai biết rõ vùng đất nào trên biên giới miền Bắc trước kia của mình nay là của người. Tuy nhiên sau Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền, đầu năm 2000 một nguồn tin của giới sinh viên trong nước tố cáo rằng Lê Khả Phiêu đã nhượng nhiều cao điểm trên vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung quốc với lý do để bảo đảm an ninh chung của hai nước. Nhiều người đi du lịch lên vùng biên giới ghi nhận rằng ải Nam Quan nằm ở cuối đường quốc lộ số 1 ngày trước là ranh giới của hai nước bây giờ nằm hẳn trong đất Trung quốc. Tuy nhiên những người quan sát ở hải ngoại vẫn còn dè dặt.
Sau Hiệp Định về Biên Giới Trên Đất Liền, cuối năm 2000 (trước đại hội lần thứ 9 của đảng cộng sản Việt Nam mấy tháng) Lê Khả Phiêu ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ rút tỉ số mặt biển trong vịnh Bắc bộ giữa hai nước Việt Trung từ tỉ số 62 trên 38 (do chính phủ bảo hộ Pháp ký với nhà Thanh trước kia) xuống tỉ số 53.23 trên 46.77 Việt Nam mất thêm một phần biển nhiều tài nguyên trong vịnh Bắc bộ ước lượng nhiều ngàn cây số vuông vào tay Trung quốc.
Các chi tiết về vụ mất đất được xì ra vào dịp đại hội thứ 9 của đảng cộng sản Việt Nam. Sau khi dâng đất, Lê Khả Phiêu tưởng đã cầm chắc chiếc ghế Tổng bí thư trong tay với sự ủng hộ của Trung quốc nên coi thường bộ ba cố vấn Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh dự tính dẹp bỏ cơ cấu cố vấn. Đỗ Mười giận quyết hạ bệ Phiêu. Trong một tài liệu phổ biến hạn chế cho các Ủy Viên trung ương đảng Mười kết Phiêu 5 tội trong đó có tội đã quá dễ dãi khi ký các Hiệp Định về đất liền và lãnh hải với Trung quốc. Phiêu mất chức Tổng Bí Thư. Nhưng ban lãnh đạo mới của Nông Đức Mạnh sợ oai Trung quốc không đả động gì tới hai bản Hiệp Định trên.
Trước dự tính của Quốc hội thảo luận để phê chuẩn hai bản Hiệp Định vào khóa họp cuối năm 2001 sắp tới ông Đỗ Việt Sơn 78 tuổi, 54 tuổi đảng yêu cầu quốc hội không phê chuẩn hai Hiệp Định nói trên. Trong một thư chính thức gởi chủ tịch nước, quốc hội và thủ tướng chính phủ ông Sơn viết: Tôi đề nghị ông Nguyễn Văn An với chức danh Chủ tịch Quốc hội thay mặt Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước – kiên quyết không thông qua Hiệp định biên giới Việt – Trung, cả trên đất liền và trên biển, đảm bảo quyền lợi cho Tổ quốc và danh dự cho dân tộc.
Ông Sơn viết tiếp: Suốt 4000 năm lịch sử kể cả thời Bắc thuộc cho đến hơn 1000 năm độc lập tự chủ, nhiều triều đại phong kiến lúc yếu cũng chưa bao giờ nhượng cho phong kiến Phương Bắc một tấc đất, một hòn đảo, cùng lắm chỉ cống nạp thiên triều ít ngà voi châu báu; lúc mạnh như thời Lý Nhân Tông đã đòi vua Tống phải hoàn trả ta 2 động, 8 huyện ở biên giới do bọn đầu mục thổ dân dâng cho nhà Tống. Vua Tống đã phải trả lại. Thế mà ngày nay, theo Hiệp định biên giới Việt Trung mới đây ta đã nhượng bộ cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất liền và hàng ngàn cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ
Ngoài ông Đỗ Việt Sơn, một trí thức trẻ khác ở Hà nội, ông Lê Chí Quang, 30 tuổi đã viết bài đặt vấn đề mất đất đưa lên mạng. Khi bị hai sĩ quan công an lớn tuổi chất vấn là viết lách lung tung, thông tin lệch lạc ông Quang đã thẳng thắn trả lời:
Điều gì chưa đúng thì xin anh cho em biết, nếu cần thì mời ông Phiêu ra đây đối chất xem! Ông ta nhân danh gì mà dám ký Hiệp định Biên giới làm cho nước ta mất hàng trăm kilomet vuông đất đai của tổ quốc?
Một trong hai sĩ quan công an giải thích:
Ông Phiêu làm là do chỉ đạo của Đảng và Bộ Chính trị
Quang không do dự hỏi lại:
Đảng là gì mà lại dám nhân danh nhân dân. Cha ông tôi, cha ông các anh sống mấy nghìn đời nay trên mảnh đất này, Đảng mới chỉ có cách đây 70 năm mà Đảng lại tự cho rằng Đảng là trên hết, là hơn hết, Đảng có quyền quyết định tất cả.
Sau cùng hai sĩ quan công an thuyết phục Quang:
Chúng ta ở vào thế yếu không ký không được
Thế nào là thế yếu và thế mạnh? Suốt 4000 năm lịch sử, có lúc chúng ta mạnh và Trung quốc yếu vì loạn lạc. Nhưng Trung quốc đất nước bao la dồi dào nhân lực thường mạnh hơn chúng ta. Tuy vậy cha ông chúng ta chưa bao giờ nhường một tất đất cho Trung quốc. Gương Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung còn đó. Ngày nay chỉ vì chiếc ghế Tổng bí thư và vài ghế trong Bộ Chính Trị quyền lực, một số người đã phản bội nhân dân, phản bội tổ quốc bán đứng một phần xương máu của cha ông cho ngoại bang.
Sự thật đã được trưng bày. Nếu Quốc Hội do đảng cộng sản kiểm soát phê chuẩn hai Hiệp Định do Lê Khả Phiêu ký vì quyền lợi của đảng thì đảng cộng sản Việt Nam là một đảng bán nước.
Kết thúc bức thư đồng gởi chủ tịch nhà nước Trần Đức Lương, chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An và thủ tướng Phan Văn Khải, ông Đỗ Việt Sơn gạt nước mắt viết 4 câu thơ:
Đất này công sức của cha ông
Khai phá ngàn năm giống Lạc Hồng
Xương máu bao đời mới có được
Xin đừng để thẹn với non sông.
Xin đừng là lời cảnh cáo của nhân dân với đảng cộng sản Việt Nam. Xin đừng bán nước. Tội gì còn có thể tha thứ, tội bán nước là tội trời không dung đất không tha.

Trần Bình Nam

 

ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÃ VI PHẠM Tháng Bảy 3, 2008

KHI KÝ CÁC HIỆP ƯỚC NHƯỢNG ĐẤT BÁN NƯỚC CHO NGOẠI BANG, ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÃ VI PHẠM NHÂN QUYỀN VÀ VI PHẠM LUẬT PHÁP QUỐC TẾ.

L.S. Nguyễn Hữu Thống

Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Hiến pháp Việt Nam năm 1967 tuyên bố lãnh thổ Việt Nam bất khả phân và bất khả nhượng.
Vậy mà trong những năm 1999 và 2000, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đi ngược lại ý nguyện của quốc dân, không bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của quốc gia và đã ký 2 hiệp ước để nhượng đất miền biên giới và bán nước vùng Vịnh Bắc Việt cho Trung Cộng.
Trên bình diện luật pháp, các hiệp ước này đã vi phạm đạo lý và vi phạm pháp lý. Do đó các chính phủ dân cử trong tương lai có quyền phủ nhận và tiêu hủy các hiệp ước bất công và bất nhân này.
Theo công pháp quốc tế, một hiệp ước bị coi là vô hiệu khi có những đối tượng phản đạo lý (immoral) vì đã tạo nên những nghĩa vụ bất hợp pháp trái với những mục tiêu và nguyên tắc căn bản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (HCLHQ) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ).

Nó cũng bị coi là vô hiệu nếu gây nên một sai lầm pháp lý ( a legal wrong) vì đã vi phạm những hiệp ước quốc tế, và các công ước quốc tế hiện hành.
Về mặt nhân quyền, khi ký kết hai hiệp ước nhượng đất bán nước nói trên, các Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc đã vi phạm những nguyên tắc chỉ đạo của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Phụ Đính Tuyên Ngôn Qước Tế Nhân Quyền. Ngoài ra họ còn vi phạm các Công Ước vềø những Quyền Dân Sự Chính Trị về những Quyền Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa và Công Ước về Luật Biển.

1. Vi phạm những mục tiêu và nguyên tắc chỉ đạo của Luật Quốc Tế Nhân Quyền. Sau Thế chiến thứ hai, để đem lại hòa bình và an ninh cho các quốc gia, Liên Hiệp Quốc đã ban hành Hiến Chương LHQ (1945) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948), bổ túc bởi Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998).
Sáu mục tiêu và nguyên tắc chỉ đạo các tương quan giữa các quốc gia hội viên LHQ là bình đẳng, hợp tác, hữu nghị, hòa bình, công lý, và tự do (trong đó có tự do kết ước, không bạo hành, không áp bức, không thôn tính và không lấn chiếm). Những nguyên tắc này được xác nhận bởi Công Ước Dân Sự Chính Trị và Công Ước Kinh Tế Xả Hội Văn Hóa (1966) mà cả Việt Nam lẫn Trung Cộng đã ký kết tham gia.
Khi ký hai hiệp ước nhượng đất bán nước nói trên, Đảng CS Việt Nam đã chịu thần phục Trung Cộng do áp bức và cưỡng chế, trái với tinh thần bình đẳng, công lý và tự do kết ước.
Ngoài ra họ còn có hậu ý muốn dựa vào Trung Cộng để duy trì quyền lực. Cũng vì vậy họ đã hy sinh quyền lợi của dân tộc để bảo vệ quyền lợi của Đảng. Trong khi đó Trung Cộng đã dùng uy lực của kẻ đàn anh, người gia trưởng, giám hộ để xâm nhập, lấn chiếm đất đai, tạo nên tình trạng đã rồi theo luật rừng xanh. Và với thế thượng phong sanü có, họ buộc Đảng CS đàn em phải hợp thức hóa tình trạng đã rồi, và hủy bỏ các hiệp ước quốc tế Hoa Việt ký kết từ thế kỷ 19.

2. Vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Phụ Đính TNQTNQ trong Phần Mở Đầu đã lên án những vi phạm tập thể thô bạo và có hệ thống bắt nguồn từ sự đô hộ, lệ thuộc hay áp chế phương hại đến chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ. Sự lệ thuộc này đã tước đoạt của cả một dân tộc quyền được sử dụng các vùng lãnh thổ và hải phận trong mục tiêu an ninh quốc phòng, cũng như trong việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên tại đất liền và biển cả.
Lịch sử Việt Nam ngày nay muốn tái diễn cảnh thần phục Bắc Phương tưởng đã chấm dứt từ thiên niên kỷ thứ nhất. Đảng CSVN đã thú nhận rằng: Trung Quốc đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình, để chúng ta có ngày hôm nay. Do đó họ đã đánh mất một phần chủ quyền quốc gia và đãø vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
3. Vi phạm quyền dân tộc tự quyết và quyền tham gia chính quyền. Chiếu Dân Tộc Tự Quyết người dân có quyền lựa chọn chế độ và chính sách quốc gia và lựa chọn chính quyền để thực thi chính sách đó. Điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền xác định rằng ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực chính phủ (The will of the people shall be the basis of the authority of government). Như vậy chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân chứ không thuộc về Đảng Cộng Sản.

Nếu ngày nay người dân được hành sử Quyền Dân Tộc Tự Quyết trong một cuộc trưng cầu dân y,ù chắc chắn họ sẽ phủ nhận sự độc quyền lãnh đạo của Đảng CS, và sẽ phủ nhận các hiệp ước nhượng đất bán nước do Đảng CS vừa ký kết.
Từ thế kỷ 19, Việt Nam và Trung Hoa đã ký những hiệp ước công khai và công bằng để phân ranh miền biên giới (Hiệp Ước Thiên Tân 1885) và phân ranh hải phận Bắc Việt (Hiệp Ước Brévié 1887). Các hiệp ước quốc tế này đã đem lại an ninh và ổn cố cho hai quốc gia từ hơn một thế kỷ. Nay bỗng dưng vô cớ Đảng CSVN lén lút nhượng đất bán nước cho Trung Cộng, ngoài sự hay biết và trái vơiù ý nguyện của quốc dân. Hành động này vi phạm thô bạo Quyền Dân Tộc Tự Quyết quy định trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (Điều 55), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 21), Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 1), Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa (Điều 1), và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Phần Mở Đầu).
Đồng thời Đảng CS còn tước đoạt của người dân quyền tham gia chính quyền khi họ tự tiện ghi vào Hiến Pháp Điều 4, giành độc quyền lãnh đạo cho Đảng CS. Họ không chịu chia sẻ quyền hành với bất cứ ai và cũng không chịu sự kiểm soát và chế tài của bất cứ ai.
Họ đã thiết lập chế độ độc tài toàn trị trong đó Đùảng lãnh đạo nhà nước, với chính phủ tay sai và quốc hội bù nhìn.
Hành động như vậy Đảng CS đã tước đoạt của người dân quyền tham gia chính quyền, quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 21), Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 8) và Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 25).

4. Vi phạm quyền tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận bao gồm tự do phát biểu, tự do thông tin, tự do tiếp nhận và phổ biến tin tức. Muốn hình thành một hiệp ước quốc tế phải trải qua 4 giai đoạn: thương thuyết, ký kết, phê chuẩn và công bố (hay ban hành). Trong vụ này, Đảng CS đã gian trá, giấu giếm không chịu công khai hóa hiệp ước. Họ đã cùng đối phương mật đàm, mật ước, lén lút thông qua, và không công bố hiệp ước trên công báo, báo chí, các đài truyền thanh, truyền hình v.v. (Có lẽ họ cho đây là một bí mật quốc gia). Trong lịch sử pháp lý của nhân loại, đây là lần đầu tiên một chính phủ và một quốc hội không chịu công bố một hiệp ước quốc tế mà họ đã ký kết và phê chuẩn. Vì họ ý thức rằng hiệp ước này đã vi phạm đạo lý và vi phạm pháp lý. Nó đi ngược lại quyền lợi của quốc gia và trái với ý nguyện của toàn dân. Bằng hành vi này, nhà nước Cộng Sản chứng tỏ rằng họ chỉ là những công cụ, bù nhìn, tay sai của Đảng Cộng Sản. Và cũng bằng hành vi này Đảng và Nhà Nước Cộng Sản đã vi phạm quyền của người dân được tiếp nhận tin tức, tham khảo tài liệu của nhà nước. Đây là quyền tự do thông tin, một nhân quyền căn bản được ghi trong Điều 19 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Điều 19 Công Ước Dân Sự Chính Trị, và Điều 6 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Vì hiệp ước không được công bố nên ngày nay người dân miền biên giới không biết nhà đất của họ còn nằm trong lãnh thổ Việt Nam hay đã thuộc về Trung Quốc?
5.Vi phạm nghĩa vụ của nhà nước trong việc thực thi nhân quyền và xây dựng dân chủ. Bản Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nhấn mạnh rằng: nhà nước có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ đề xướng, bảo vệ và thực thi nhân quyền và những quyền tự do căn bản. Các Điều 2 và 18 Tuyên Ngôn Phụ Đính quy định nghĩa vụ của công dân và các cơ quan đoàn thể trong việc phát huy dân chủ, xây dựng các xã hội dân chủ, thiết lập các định chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ.

Vì không tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, quyền tham gia chính quyền, quyền tự do thông tin và những quyền tự do căn bản khác của người dân, nhà nước Cộng Sản đã ngăn cản việc xây dựng một xã hội dân chủ với các định chế và thủ tục sinh hoạt dân chủ. Vì nhà nước chỉ là một công cụ của Đảng Cộng Sản nên Đảng này phải chịu trách nhiệm về những vi phạm thô bạo nhân quyền và những quyền tự do căn bản của người dân ghi trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền.

6.Vi phạm các Công Ước Quốc Tế kể cả Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Các Công Ước Quốc Tế Liên Hiệp Quốc chủ trương sự hợp tác quốc tế trên căn bản công bằng, hữu nghị, và bình đẳng quyền lợi của các quốc gia kết ước. Không có sự chối cãi la về vấn đề lãnh thổ và hải phận từ cuối thế kỷ 19, Việt Nam và Trung Hoa đã ký những hiệp ước công bằng và tôn trọng quyền lợi hỗ tương. Những hiệp ước này đã đem lại an ninh, hòa bình và ổn định từ hơn một thế kỷ nay.
Trong khi đó Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung muốn áp đặt một tình trạng đã rồi, do sự lấn chiếm của Trung Cộng trong Chiến Tranh Đông Dương và Chiến Tranh Trung Việt (1979). Đạo lý quốc tế không cho phép hợp thức hóa một tình trạng do xâm chiếm hay bạo hành. Đó là sự khác biệt giữa luật pháp văn minh của loài người và luật rừng xanh. Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt không tôn trọng các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (1982), theo đó sự phân ranh thềm lục địa và hải phận phải căn cứ vào các tiêu chuẩn của Tòa Án Quốc Tế La Haye và Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế. Theo án lệ cố định của Tòa Án Quốc Tế được coi như Luật Tục Lệ Quốc Tế (Customary International Law) thì sự phân ranh hải phận tại Vịnh Bắc Việt phải tham chiếu những yếu tố sau đây:

a. Về mật độ dân số, số dân cư ngụ tại miền bờ biển BắcViệt đông gấp 10 lần số dân sinh sống tại bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Việt Nam.
b. Bờ biển Bắc Việt dài gấp 3 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Việt Nam.
c. Về khu đặc quyền kinh tế để đánh cá, Biển Đông là khu vực đánh cá căn bản của Việt Nam, trong khi dân chài đảo Hải Nam còn được hưởng 200 hải lý để đánh cá về phía đông bờ đảo chạy thông ra Thái Bình Dương.
d. Về thềm lục địa để khai thác dầu khí tại Vịnh Bắc Việt, dầu khí nằm trong các thủy tra thạch kết tụ các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà từ cao nguyên Tây tạng chảy ra biển từ cả triệu năm nay. Không có con sông lớn nào từ đảo Hải Nam hay từ lục địa Trung Hoa chảy ra Biển Đông cho phép Trung Hoa khai thác các túi dầu khí tại vùng này.
e. Về mặt kinh tế và an ninh quốc phòng, Biển Đông có quan hệ mật thiết với Việt Nam hơn Trung Hoa. Vì Trung Hoa còn có Biển Hoàng Hải và Đông Trung Quốc Hải chạy thông ra Thái Bình Dương.
Từ thập niên 1960, Tòa Án Quốc Tế đã căn cứ vào những yếu tố và tiêu chuẩn trên đây để phân ranh hải phận và thềm lục địa tại các quốc gia duyên hải. Thông thường Tòa Án không đồng hóa hải đảo (Hải Nam) với lục địa (Bắc Việt).
Một phần vì không am tường pháp luật, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhượng bộ Trung Cộng quá đáng, làm thiệt hại từ 10% đến 16% hải phận Vịnh Bắc Việt. Giải pháp thỏa đáng nhất là trở lại Hiệp Ước Brévié năm 1887.
Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt chưa được phê chuẩn nên chưa có hiệu lực chấp hành. Do đó nếu đồng bào quốc nội đứng lên lập kiến nghị hay tổ chức mít tinh, biểu tình tuần hành yêu cầu Quốc Hội không phê chuẩn, thì hiệp ước sẽ tự động tiêu vong. Đó là một hình thức hữu hiệu trong cuộïc đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp và bất bạo động để đòi hành sử Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Phong trào ngăn chặn Quốc Hội không phê chuẩn Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt sẽ có tác dụng ngăn chặn Đảng CS trong việc ký kết một Hiệp Ước Biển Đông để nhượng nốt cho Trung Cộng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 1, 2002
L.S. Nguyễn Hữu Thống

 

TUYÊN CÁO Tháng Bảy 3, 2008

TUYÊN CÁO

của Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ về việc Đảng
Cộng Sản Việt nam thực hiện việc nhượng đất choTrung
Cộng qua Hiệp ước 1999.

Ngày 27 tháng 12 năm 2001, Việt cộng (VC) tổ chức lễ trọng thể đặt Mốc biên giới tại thị trấn Móng Cái. Đây là Mốc đầu tiên trong số 1,500 cái sẽ được đặt trên một khoảng cách là 1,350 cây số dọc theo biên giới Việt Hoa.
Cùng một lúc,Trung cộng (TC) cũng tổ chức một lễ tượng tự tại thị trấn Đông Hưng sát ngay Móng Cái.
Việc đặt Mốc này là thi hành Hiệp Ước Phân Định Biên Giới trên đất liền mà TC và VC ký vào ngày 30 tháng 12 năm 1999. Quốc Hội VC đã phê chuẩn Hiệp Ước vào tháng 6 năm 2000.
Dù đã phê chuẩn Hiệp ước ấy, Đảng cộng sản Việt nam (ĐCS) vẫn không công bố nội dung Hiệp ước cho công chúng biết. Chúng coi Hiệp ước như một bí mật quốc gia.
Người ta chỉ được biết mơ hồ rằng hai bên đã giải quyết được 70 địa diểm tranh chấp. Có lẽ ĐCS ám chỉ đến các ngọn đồi và các địa điểm chiến lược nằm sâu trong nội địa Việt nam mà Trung cộng chiếm của Việt nam trong thời gian xảy ra tranh chấp từ tháng 2 năm 1979. Các địa điểm này nằm trong 6 tỉnh biên giới là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu. Lúc đó quân TC đã tiến sâu vào tới 40 cây số, tàn phá nhiều cơ cở của Việt nam. Sau 17 ngày xâm lăng, TC tuyên bố rằng đã dạy xong một bài học cho VC, rồi rút quân về. Thực tế, quân TC còn chiếm đóng các cao địa ấy, và từ đó dùng các phương tiện quân sự để đe doạ VC, nhằm cầm chân 600,000 quân VC tại mặt trận này. Đến 1987, mức độ áp lực cuả TC giảm xuống nhiều, nhưng TC vẫn còn tiếp tục chiếm đóng quân
tại các vùng ấy.
Dù sau khi hai bên ký Hiệp ước tái lập bang giao vào 1991, lính biên phòng TC đóng tại các nơi này vẫn sử dụng võ lực đuổi nông dân Việtnam đi nơi khác, có khi đốt nhà cửa của họ để chiếm đất cho nông dân TC sang lập nghiệp.
Không một ai được biết có bao nhiêu đất đã lọt vào tay TC và ở những nơi nào?
Trong số khu vực đã được giải quyết như ĐCS tiết lộ, TC đã trả lại cho Việtnam những nơi nào, như thế nào, bao giờ, diện tích là bao nhiêu, và ai là ngưòi tiếp nhận?
Mới đây có tin tức tiết lộ cho biết số đất VC nhượng cho TC là 789 cây số vuông.
Hiệp ước Phân Định Biên Giới trên đất liền đượïc thai nghén tại Trung Hoa từ 1991 với sự cam kết của Tổng bí thư (TBT) Đảng CSVN Đỗ Mười. Rồi TBT Lê Khả Phiêu cũng tại Trung Hoa hứa thúc đẩy việc ký kết và Hiệp ước được ký vào tháng 12 năm 1999. Cuối cùng, đầu tháng 12 – 2001 vừa qua cũng tại Bắc Kinh như 2 TBT tiền nhiệm, TBT Nông đức Mạnh xác nhận trong Thông Cáo Chung thực hiện ngay công tác cắm Mốc biên giới. Đây là bước cuối cùng trong tiến trình chuyển nhượng phần lãnh thổ đó cho TC.
Việc cắm Mốc vội vã này là để hợp thức hoá biên giới mới ấy trong một âm mưu chuyển nhượng đất đai của quốc dân Việt nam.
Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ trong các tuyên cáo ngày 29 tháng 4 năm 1995 và ngày 18 tháng 12 năm 2000 đã xác nhận chủ quyền của Việt nam trên đất liền cũng như trên mặt biển; tố cáo ĐCSVN chuyển nhượng bất hợp pháp các phần đất ấy của dân tộc Việt nam; và qui trách nhiệm cho ĐCS làm công việc phi pháp này.
Một lần nữa, Ủy Ban tuyên bố Hiệp ước ấy và biên giới mới đang được thực hiện bằng cách cắm Mốc là vô giá trị vì lẽ:
1) Đất đai của Việt nam thuộc quyền sở hữu của quốc dân Việt nam. Chỉ có quốc dân Việt nam mới có quyền quyết định về mọi chuyển nhượng.
2) ĐCSVN đã lạm dụng quyền hành làm việc này, và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi ấy.
3) Đối với Trung Cộng, đây là việc làm giữa hai Đảng CS, không có liên hệ gì với quốc dân Việt nam. Đảng CSVN chiếm quyền và cai trị bằng bạo lực, không phải là đại diên cho nhân dân Việt nam. Hiệp ước 1999 và việc thi hành Hiệp ước như trên vì thế hoàn tòan vô giá tri. Quốc dân Việt nam dành quyền sử dụng mọi phương pháp cần thiết để bảo vệ tài sản của tiền nhân để lại.

Làm tại California ngày 18 tháng 1 năm 2002
Đại diện: GS Nguyễn văn Canh

ANNOUNCEMENT OF THE COMMITTEE TO PROTECT
THE TERRITORIAL INTEGRITY OF VN

In its Announcement signed by Dr. Canh Van Nguyen on January 18, 2002, the Committee to Protect the Territorial Integrity of Vietnam declared the December 30, 1999 Vietnam – China Treaty on the border on the land is invalid because:
1- Vietnam’s lands and territories are owned by the people of Vietnam. Only the people of Vietnam are able to make decisions on any transfers.
2- The Communist Party of Vietnam has abused its power in this matter, and as such, has to bear all the criminal responsibilities concerning its action.
3- Towards communist China, this is an affair between the two Parties which has no relation whatsoever to the people of Vietnam. The Communist Party of Vietnam seized power and rules the people by force, it is not representative of the people of Vietnam. The 1999 Treaty and the implementation of that Treaty by installing the marked poles is invalid. The people of Vietnam reserve the right to use all neccessary means to protect the national assets that our ancestors have handed down to the people.

Representative: Dr. CANH VAN NGUYEN

 

DECLARATION Tháng Bảy 3, 2008

Chuyên mục: Bên Kia Bờ Đại Dương 042, English — sontrung @ 4:56 chiều
Tags: , , , , ,

To: THE WORLD COMMUNITY
- The Honorable Kofi Annan, UN Secretary-General
- H.Ẹ Rodolfo Certeza Severino, Jr. ASEAN Secretary-General
- Government of Peoplés Republic of China
- Communist Party of Vietnam

DECLARATION TO THE WORLD COMMUNITY
ON REJECTION OF SINO-VIETNAMESE BORDER AGREEMENTS

On December 30, 1999 and December 25, 2000, the Peoplés Republic of China and the Socialist Republic of Vietnam signed one Sino-Vietnamese land border treaty and two territorial waters agreements, changing the historical borders between the two countries and inflicting a great territorial loss to Vietnam.
These treaty and agreements present a serious threat to the integrity and benefits of Vietnam and were made despite the fact that they were never opened for public knowledge and discussion. Instead, they were signed cunningly by the self-imposed leaders of the communist government, none of whom is directly elected by the people. Worse, they were rubber-stamped by the National Assembly which does not truly represent the Vietnamese people, as its members are chosen by the communist party before being elected by the people in monopolistic one-party elections. Even the Constitution is drafted and implemented in violation of the fundamental principles and procedures of a democratic constitution. Furthermore, since the 1950s the Vietnamese Communist Party leadership has constantly violated and willfully rejected numerous international agreements and covenants to which Vietnam is a signatory.
National land and sea territories belong to the people. Whatever the pretext or pretense, no one, no political party or government has the right to exchange their forefathers land for monopoly of political power. This is particularly self-evident in the case of the Vietnamese government, an undemocratic, illegitimate and law-breaking institution. Such a government has been endowed with absolutely no right to sign, on behalf of the nation and the Vietnamese people, any agreement to relinquish territorial rights to a foreign country.
Regardless of residency, religious or political leaning or association, no Vietnamese can ignore this sellout of their national territories, obtained and safeguarded by their forefathers generation after generation. Each and every person of Vietnamese descent who loves Vietnam, justice, freedom and dignity cannot keep silent and must protest these wrong doings.
We, the undersigned, living inside and outside Vietnam, solemnly declare to the world:
The above-mentioned Sino-Vietnamese land border treaty and territorial waters agreements are considered totally invalid by the Vietnamese people, undeniably illegal under international laws and obviously posing a threat to the peace and stability in Southeast Asia. We reject and assume no obligations to implement these treaty and agreements, and declare the rights to defend our national territory by all means.
In the name of justice, freedom and dignity for each and every human being and for 80 millions Vietnamese, as well as in the interest of safeguarding peace and stability in Southeast Asia, we urge the world community, the United Nations, and all democratic governments to support the building of a legitimate and democratic government in Vietnam. We further call for their support of the rights of the Vietnamese people to defend their national territorial integrity.
Done this 28th day of January 2002.
The Undersigned
Sincerely,

 

LETTER TO UN Tháng Bảy 3, 2008

Chuyên mục: Bên Kia Bờ Đại Dương 042, English — sontrung @ 4:53 chiều
Tags: , , , , ,

LETTER TO UN
His Excellency Kofi Annan
U.N. Secretary-General
Ms. Mary Robinson
U.N. Human Rights Commissioner
United Nations Headquarters
NEW YORK CITY
U.S.A.

Dear Sir and Madam,

RE: HUMAN RIGHT VIOLATIONS OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF
VIETNAM GOVERNMENT ON VIETNAMESE PEOPLE LIVING ALONG THE
BORDER BETWEEN VIETNAM AND CHINA.

We, members of the Vietnamese Community in Australia and supporters of human
rights, wish to bring to your attention the latest gross human rights violation of
the Socialist Republic of Vietnam (SRV)’s government on the people of Vietnam.

The Communist Party of Vietnam (CPV), an illegitimate holder of power in Vietnam,
had ordered its instrument, the Government of SRV-without any disputes, military
conflict or war between Vietnam and China, and without any warning,
consultation, referendum or seeking the approval of the Vietnamese people and the
Parliament – to sign two treaties with the People’s Republic of China (PRC): one on
land borders on the 30th December 1999 and one the division of territorial waters in
the Gulf of Tonkin on 25th December 2000.

The land border treaty gave away more than 789km2 of Vietnam’s northern
bordering territory to China, and the division of territorial waters treaty gave away
11,000km2 of Vietnam’s water territory to China. On the 27th December 2001, the
first border demarcations have been taken place at the border town of Dongxin (in
China) and Mong Cai (in Vietnam).

Many thousands of Vietnamese people, who have lived along the six northern
border provinces between Vietnam and China: Lai Chau, Lao Cay, Ha Giang, Cao
Bang, Lang Son and Hai Ninh were forced to leave their homes and ancestral lands
to move south in order to claim their Vietnamese citizenship. Those who chose to
stay are now subjected to the rules of the People’s Republic of China against their
will.

These border and territorial “readjustments” have caused untold sufferings and
violated some of the most fundamental rights of the Vietnamese people who were
living on the land and the waters that have been conceded to China: that is the
right to remain Vietnamese citizens and the right to live on their ancestral land.

Since:

1.Article 4 of the Constitution of the SRV takes away the fundamental rights
of the Vietnamese people to vote and to stand for elections freely and
democratically and contravenes the 21(1) and 21(3) articles of the United
Nation’s Declaration on Human Rights to which Vietnam is a signatory
member;
2.The Communist Party of Vietnam and the SRV government have never
been freely and democratically elected by the Vietnamese people, they were
neither representing nor expressing the wishes of the Vietnamese people in
signing these treaties;
3.The territories of Vietnam belong to the people of Vietnam and not any
regime or government, and any treaty on territorial waters or land must be
decided by the whole nation via a referendum or at least through a
democratically elected Parliament. The SRV government and the CPV have
done none of these things. They have thus committed a treasonable
offence by the Vietnamese people for conceding the sovereignty of
Vietnam’s land and waters to China;
4.China, by accepting this unlawful and secret concession of land and
territorial waters from the Communist Party of Vietnam without the
knowledge and approval of the Vietnamese people, has, in effect, violated
the sovereignty of Vietnam and thus has unlawfully occupied Vietnamese
territory.

We are, therefore, urgently seeking the United Nations Council and the United
Nations Commissioner For Human Rights,

1.To take note that the Vietnamese Community in Australia and the below
signatories regard the land borders and territorial waters treaties between
the SRV and China as invalid.
2.To discuss this matter at the General Assembly of the United Nations.
3.To initiate an immediate investigation on this latest violation on human
rights of the Socialist Republic of Vietnam’s government on the people
who live in the areas conceded to China, and
4.To request an immediate official explanation from the SRV and the PRC
governments to the UN Council on the details of these unlawful treaties.

Yours truly,

 

CHIM BỒ CÂU Tháng Bảy 3, 2008

CHIM BỒ CÂU & HÒA BÌNH
                                         

Sơn Trung

Đa số đồng bào ta cho rằng chim bồ câu là hiền lành, dễ thương.Ngoài ta, chúng ta thich bồ câu vì bồ câu là một món ăn bổ dưỡng rất giá trị. Quý bà nhà giàu thường làm món bồ câu hầm sen,đậu xanh bồi dưỡng cho đấng lang quân. Người Trung quốc có món mì bồ câu cũng rất ngon. Người Âu, Mỹ rất thich bồ câu nhưng họ không bao giờ ăn thịt bồ câu.
  

Khoảng 1953, tôi là một học sinh, theo trường đi thăm một đền thờ với một số cán bộ cộng sản. Khi thấy một pho tượng thần tay cầm kiếm, chân đạp lên mình một con quỷ dữ, vị cán bộ cho rằng đây là hình ảnh bất công, vô nhân đạo ,vì người hành hạ người, người chém giết người…. Sau đó, 1954, họ phát động phong trào cải cách ruộng đất, chém giết,hành hạ những ngườI mà hôm qua là đồng bào, đồng chí của họ… .! Tôi buồn rầu mà nghĩ rằng con người sao tráo trở, gian ác như thế mà lại ăn nói ngon lành như thế ! Té ra lời nói và việc làm là hai chuyện khác nhau đối với người cộng sản !

Thuở ấy tôi là một học sinh, sống trong vùng xôi đậu, ít lâu sau Pháp rút, Việt Minh làm chủ hoàn toàn. Tôi là một học sinh, yêu nước, ủng hộ việc chống Pháp.. . Tôi cũng yêu hòa bình, yêu Liên Xô theo phong trào kháng chiến thời ấy. Tôi đã làm mấy câu thơ cho tờ bích báo của trường mà nay còn nhớ:

Tôi yêu cánh bồ câu trắng,

Bay trong buổi bình minh,

Tôi yêu hòa bình,

Yêu Liên Xô thắm thiết mối tình anh em!

Thiếu nữ và chim bồ câu của Picasso

Ông Picasso lừng danh quốc tế. Ông thiên cộng và chuyên vẽ bồ câu biểu tượng hòa bình. Ông được cộng sản lợi dụng côn chim bồ câu của ông mặc dầu họ chê tranh của ông bí hiểm, không hợp với đại chúng nhân dân.Người đề cao bồ câu nhất phải kể là các ông cộng sản. Trong báo chí, bich chương, người cộng sản thường vẽ chim bồ câu với lời kêu gọi hòa bình dù họ tàn sát đồng chí, đồng bào không nương tay. Ôi hòa bình, cộng sản lợi dụng mi để gây tang tóc khắp nơi!

Sau 1975, tôi về ở tại Gia Định. Nhà lụp xụp nhưng đất đai khá rộng, tôi bèn nuôi bồ câu chơi. Qua những năm nuôi bồ câu, tôi nhận thấy thần tượng bồ câu đã sụp đổ hoàn toàn !

Ở đây, tôi sẽ nói về ưu điểm và khuyết điểm của chim bồ câu.

Ưu điểm của chim bồ câu là khá trung thành với vợ, khá thương con.

Dường như chim bồ câu theo chánh sách một vợ một chồng, tôi chưa thấy chim bồ câu trống lang chạ như gà, vịt, dê, chó.. .Khi bồ câu mái đẻ trứng, con trống canh ở ngoài cửa, và thay phiên ấp trứng. Khi con nở, con trống cũng góp phần mớm đồ ăn cho con.

Khuyết điểm của bồ câu nhất là bồ câu trống thì rất nhiều.

- Không lịch sự:

Con gà trống lịch sự nhất, ga lăng nhất trong loài chim. Khi gặp con mái ưng ý, gà trống ta cất cao tiếng gáy, rồi mờI mọc ăn uống ( cũng giống con ngườI ). Khi nhặt được hạt thóc, con sâu, gà trống nhịn ăn mờI gái xơi ! Còn bồ câu ăn một mình, không mời ai .

- Độc tài

Khi đã thành vợ chồng, bồ câu trống rất độc tài theo chủ trương phu xướng phụ tùy, chồng chúa vợ tôi ! Khi đẻ hay ấp trứng, chim mái phải tuân theo sự chỉ huy của chim trống. Chim trống chỉ cho phép chim mái ăn uống có giờ giấc, ăn uống nhanh chóng rồi lên tổ trông trứng. Nếu chậm trễ, chim trống dùng vũ lực bắt chim mái lên ổ gấp !

- Háo chiến .

Chim bồ câu không hung hản như chim ưng nhưng cũng dữ tợn như gà. Cũng giành gái, cũng xưng hùng, xưng bá như các loài khác, hễ thấy kẻ lạ, nhất là những chàng bồ câu trẻ đến bên bồ hay vợ mình là đánh đuổI đến kỳ cùng.

- Ham mới nới cũ.

Khuyết điểm này là chung cho bồ câu . Hễ thấy chuồng bồ câu nào đẹp là đến ở mà bỏ chủ cũ, chuồng cũ. Nếu bạn muốn nuôi bồ câu mà không tốn tiền mua bồ câu, bạn cứ làm một cái chuồng sơn phết thật đẹp là sẽ có một đàn bồ câu khác đến ở. NgườI ta bảo rằng khi bồ câu bỏ ta mà đi là đờI ta xuống dốc ! Trái lại, nếu một con chó,hay một đàn bồ câu đến nhà ta, là ta bắt đầu phát đạt !

Tôi nuôi bồ câu được vài năm thì gặp nhiều vấn đề.

Tại Việt Nam mèo hoang phát triển mạnh vì nhà không đủ ăn, ai còn nuôi mèo làm gì . Mèo hoang quá nhiều cho nên chúng săn bắt bồ câu dữ dội. Ban ngày, nhất là ban đêm chúng trèo lên chuồng bắt bồ câu mẹ và bồ câu con ăn thịt. Thứ đến là nạn bắn chim. Bọn thanh niên nhất là thanh niên ngoài bắc vào, đứa nào cũng có súng bắn chim, súng Trung quốc, bắn rất chính xác. Chúng bắn để vui chơi và để ăn thịt. Chúng không tha một con chim sẻ non. Chúng bắn cả bồ câu có chủ.. Chúng vào chùa bắn chim, sư ra đuổi, chúng chửi lại ! Chúng chẳng sợ ai vì cha mẹ chúng là cán bộ cao cấp !
Vì vậy mà tôi giải tán đàn chim bồ câu của tôi.. .
                                                                                           

Sơn Trung